Thứ Hai, 25 tháng 5, 2009

SỰ THẬT LỊCH SỬ


- Sự thật lịch sử
Lữ Giang
Năm nay, nhân kỷ niệm 55 năm biến cố Điện Biên Phủ (1954 – 2009), hôm 7.5.2009 vừa qua, phóng viên đài BBC đã phỏng vấn Giáo Sư Nguyễn Quang Ngọc, Viện Trưởng Viện Việt Nam Học ở Hà Nội, về những tài liệu mà Trung Quốc đã công bố liên quan đến sự trợ giúp và vai trò của Trung Quốc trong chiến thắng Điện Biên Phủ. Giáo Sư Ngọc thừa nhận rằng những thông tin đó đã làm nhiều người Việt Nam lúng túng. Nhưng ông cho biết giới nghiên cứu Việt Nam cũng đã có nhiều bằng chứng để phản ứng lại cách đưa tin của Trung Quốc.
Thật ra, tài liệu của Trung Quốc không chỉ nói về sự viện trợ và vai trò của Trung Quốc trong trận Điện Biên Phủ, mà trong cả cuộc chiến chống Pháp của Việt Minh từ 1959 đến 1954. Đây là những tài liệu đã làm đảng CSVN nhức nhối, vì nhiều sự thật khó phủ nhận đã được phơi bày ra ánh sáng.
TÀI LIỆU ĐƯỢC TIẾT LỘ
Các sử gia và các nhà phân tích đều cho rằng tương quan giữa Hoa Kỳ và VNCH cũng như tương quan giữa Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) và CSVN trong cuộc chiến Việt Nam đều là những chương bi thảm.
Tài liệu về những tương quan giữa Hoa Kỳ và VNCH đã được giải mã gần hết và ai muốn nghiên cứu cũng được, nhưng đến nay những tài liệu đó vẫn chưa được hệ thống hoá và phân tích để làm bài học lịch sử vì người Mỹ thấy rằng công việc đó có thể phương hại đến chính sách đối ngoại hiện tại của họ, còn đa số người Việt chống cộng rất sợ sự thật và có khi còn tìm cách chống lại sự thật vì muốn tiếp tục sống với huyền thoại của một thời dĩ vãng xa xưa.
Trái lại, mặc dầu gọi nhau “vừa là đồng chí vừa là anh em”, nhưng vì có những giai đoạn đã xẩy ra các cuộc tranh chấp gay cấn, nên các tài liệu về tương quan giữa CSTQ và CSVN đã được hai bên chính thức công bố để tố cáo nhau trước công luận. Nhờ những tài liệu này chúng ta đã thấy được nhiều mặt trái đàng sau mối tương quan giữa CSTQ và CSVN, và CSVN đã từ từ bớt “cường điệu” về “đỉnh cao trí tuệ loài người” của họ.
Như chúng tôi đã nói, sau khi bị Trung Quốc “dạy cho một bài học” vào năm 1979, CSVN đã cho công bố hai tài liệu quan trọng để tố cáo CSTQ:
1.- Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua.
2.- Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Trong hai tài liệu này, CSVN đã chơi CSTQ cạn tàu ráo máng.
Để đáp lại, nhân 50 năm kỷ niệm trận Điện Biên Phủ (1954 – 2004), CSTQ đã cho công bố một tập tài liệu có nhan đề “Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”. Tài liệu này được viết dưới hình thức hồi ký do những người trong cuộc ghi lại. Tuy nhiên, với vai trò đàn anh và kẻ cả, các tác giả đã không viết theo lối hằn học như tài liệu của đảng CSVN, mà viết một cách rất lịch sự và nhẹ nhàng nhưng rất thấm thía, ngầm cho thế giới biết rằng không có CSTQ không có chiến thắng Điện Biên Phủ, không có Hiệp Định Genève năm 1954 trao một nữa nước Việt Nam cho đảng CSVN.
VIỆN TRỢ TO LỚN CỦA TRUNG QUỐC
Như chúng tôi đã chứng minh nhiều lần, từ 1946 đến 1949, bị Pháp đuổi, Việt Minh chỉ có bỏ chạy. Nhưng một biến cố bất ngờ xẩy đến đã giúp Việt Minh lật lại thế cờ, đó việc Mao Trạch Đông đánh bại Tưởng Giới Thạch và thành lập chính phủ Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc vào ngày 1.10.1949. Hồ Chí Minh liền xin Mao Trạch Đông giúp Việt Nam chống Pháp.
Vì phạm vi bài báo có giới hạn, chúng tôi xin tóm lược lại dưới đây những sự kiện chính về sự viện trợ và vai trò của Trung Quốc trong cuộc chống Pháp của đảng CSVN (lúc đó gọi là đảng Cộng Sản Đông Dương). Tài liệu này do các cố vấn Trung Quốc là La Quý Ba, Trương Quảng Hoa, Vi Quốc Thanh, Vu Hoá Thầm, v.v... biên soạn.
1.- Hồ Chí Minh cầu viện Trung Quốc
Chúng ta hãy nghe ông La Quý Ba, Trưởng Phái Đoàn Cố Vấn Trung Quốc đầu tiên kể lại:
“Trung Quốc mới ra đời chưa được bao lâu, mùa đông năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi thư cho Mao Chủ Tịch, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc cung cấp viện trợ và cử người sang giúp Việt Nam.
“Tháng 1/1950, Hồ Chí Minh đích thân bí mật đến Bắc Kinh, yêu cầu Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp.
“Trung ương Đảng ta theo yêu cầu của Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Đông Dương, đã báo cáo và được Mao Chủ Tịch đồng ý, quyết định cử tôi bí mật sang Việt Nam, làm đại diện liên lạc giữa Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương...”
Cố vấn Trương Quảng Hoa kể rõ hơn:
“Một buổi chiều hạ tuần tháng 1/1950, trên đường đất gồ ghề ở huyện Quảng Hòa tỉnh Cao Bằng, Việt Nam, có một ông già, thân hình gầy gò, đầu quấn khăn mặt đi đến cửa Thủy Khẩu, Long Châu – Quảng Tây, Trung Quốc. Ông già đó chính là Hồ Chí Minh, Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc đó gọi là Đảng Cộng sản Đông Dương). Cùng đi với Hồ Chí Minh có Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phụ trách công tác hậu cần của Quân đội Nhân dân Việt Nam và năm, sáu trợ lý.
“Chuyến đi này của Hồ Chí Minh hoàn toàn bí mật, ngay cả lãnh đạo Trung ương Đảng Việt Nam cũng chỉ có số ít người biết.
“Hồ Chí Minh vừa chủ trì triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 Đảng Cộng sản Đông Dương, khi phân tích tình hình đấu tranh trước mắt, toàn thể hội nghị nhất trí cho rằng: “Thiếu quân chính quy, thiếu binh chủng và vũ khí hạng nặng công kiên, đánh thành, thiếu phương tiện thông tin nhanh, thiếu cán bộ thực sự hiểu được thao lược chỉ huy vận động chiến” là vấn đề lớn nhất đặt ra trước mắt cuộc chiến tranh chống Pháp lúc bấy giờ. Vì vậy hội nghị nêu rõ, cần phải gấp rút đào tạo và xây dựng quân đội nhân dân, xây dựng bộ đội chủ lực thích ứng với tình hình đấu tranh mới. Mục đích chuyến thăm Trung Quốc lần này của Hồ Chí Minh là thông báo tình hình đấu tranh chống Pháp của Việt Nam với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, yêu cầu Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chính phủ Trung Quốc giúp xây dựng quân đội và cử nhân viên quân sự và viện trợ cho cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam...
“Sáng ngày 27/6 các lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà Nước: Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức thân mật tiếp hơn 40 nhân viên cố vấn của Bắc Kinh tại Di Niên đường, Trung Nam Hải. Mao Trạch Đông nói:
“Không phải tôi muốn cử các đồng chí sang Việt Nam, mà là Chủ Tịch Hồ Chí Minh đến Trung Quốc yêu cầu chúng ta. Cách mạng chúng ta thắng lợi trước, nên giúp đỡ người ta, giúp họ gọi là chủ nghĩa quốc tế ”.
2.- Tình trạng của Việt Minh trong bốn năm đầu
La Qúy Ba đã mô tả tình trạng của Việt Minh trong bốn năm đầu như sau:
“Quân Pháp tiến hành bao vây, phong tỏa, chia cắt và không ngừng tiến công quân sự và bắn phá điên cuồng vào căn cứ địa kháng chiến vùng núi Việt Bắc. Lúc này, tình hình chiến trường ở vào giai đoạn cầm cự: Quân Pháp không thể chinh phục quân dân Việt Nam, quân dân Việt Nam nhất thời cũng khó phát động phản công, chỉ có thể phân tán đánh du kích.”
KHAI THÔNG BIÊN GIỚI VIỆT TRUNG
Cố vấn La Qúy Ba nói về công việc đầu tiên phải làm như sau:
“Bước đầu tiên viện trợ Việt Nam là phải khai thông giao thông biên giới Trung-Việt, vì có thế vật tư viện trợ Việt Nam mới có thể chở sang Việt Nam thuận lợi. Chỉ cần Quân đội Nhân dân Việt Nam chiếm con đường giao thông chủ yếu trên biên giới Trung-Việt thì quân Pháp sẽ mất ưu thế số một.
1.- Chọn điểm đánh
Cố vấn La Qúy Ba cho biết:
“Chỉ có hai sự lựa chọn khai thông con đường giao thông chủ yếu biên giới Trung-Việt: một là đánh Cao Bằng tiếp giáp giữa Việt Nam và Quảng Tây; một nữa là đánh Lào Cai tiếp giáp giữa Việt Nam và Vân Nam. Đánh Cao Bằng trước hay đánh Lào Cai trước, hay là đánh cả hai cùng một lúc, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Trung ương Đảng ta đều đã điều tra nghiên cứu, suy nghĩ trao đổi nhiều lần gần 3 tháng. Ngày 2.7.1950, Mao Chủ tịch gửi điện trả lời Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam:
“Đồng ý kiến đánh Cao Bằng trước, phương án tác chiến cụ thể đối với Cao Bằng, chờ sau khi Trần Canh đến, do các đồng chí quyết định cuối cùng. Sau này tác chiến như thế nào do chính các đồng chí căn cứ vào tình hình cụ thể quyết định. Nếu chúng tôi có ý kiến, cũng chỉ để các đồng chí tham khảo. Bởi vì các đồng chí hiểu rõ tình hình hơn chúng tôi”.
2.- Chuẩn bị trận đánh
“Đồng chí Trần Canh là vị tướng được Hồ Chí Minh điểm danh với Mao Chủ Tịch và Trung ương đảng ta. Mao Chủ Tịch, Trung ương đảng ta cử đồng chí Trần Canh làm đại diện của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc sang Việt Nam giúp tổ chức chỉ huy chiến dịch Biên Giới, đoàn cố vấn quân sự đã tham gia chiến dịch biên giới...
“Trong thời gian chuẩn bị chiến dịch Biên Giới, Mao Chủ Tịch, Trung ương Đảng đồng ý yêu cầu của Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đưa một bộ phận quân đội nhân dân Việt Nam đến vùng núi Văn Sơn, Vân Nam, chỉnh đốn đội hình, trang bị, huấn luyện, đồng thời giúp bộ phận quân đội này biên chế thành hai đại đoàn (tức 2 sư đoàn) hình thành hai quả đấm, đóng vai trò quan trọng trong chiến dịch biên giới...
3.- Mở màn trận đánh
“Ngày 16/9, chiến dịch Biên Giới bắt đầu. Đêm 16/9, Trung đoàn 174 bộ đội chủ công được pháo binh phối hợp, mở cuộc tấn công quân địch ở Đông Khê (cách Cao Bằng 43km). Dưới sự yểm trợ của các loại hoả lực, Quân đội Nhân dân Việt Nam lần lượt chiếm lĩnh một số cứ điểm ngoại vi Đông Khê, nhưng triến triển chậm chạp sau khi tiến gần tới trung tâm phòng ngự của địch. Sáng sớm ngày 17, địch phản kích dưới sự yểm trợ của máy bay. Do Quân đội Nhân dân Việt Nam thiếu kinh nghiệm, chỉ huy không kịp thời, nên rút lui khỏi trận địa đã chiếm lĩnh.
“Sau khi Trần Canh và Vi Quốc Thanh biết được tình hình này hết sức lo lắng, lập tức đến bộ chỉ huy tiền tuyến Quân đội Nhân dân, gặp Võ Nguyên Giáp, cùng nghiên cứu nguyên nhân tấn công bị thất bại, ra lệnh cho bộ đội điều chỉnh sự bố trí, bao vây chặt, đề phòng địch phá vây, đến tối sẽ tấn công lại...”
4.- Kết quả như thế nào?
Tài liệu cho biết:
“Sau khi cuộc chiến đấu kết thúc điều tra ra, quân địch đóng giữ Đông Khê chỉ có hơn 2 đại đội, không đến 400 tên, quân đội Việt Nam với binh lực 7000 người, tấn công hai đêm, thương vong 500 người mới thắng. Mặc dù cái giá rất lớn, nhưng mục tiêu bước đầu của chiến dịch đã đạt được, tức là một thắng lợi không nhỏ.”
Ngày 14.10.1950, Hồ Chí Minh gửi cho Mao Trạch Đông một văn thư có nội dung như sau:
“Chúng tôi đã thắng lợi hoàn toàn trong chiến dịch Thất Khê – Cao Bằng (Ghi chú: Hồ Chí Minh viết lộn: Thật ra là đồn Đông Khê thuộc Cao Bằng. Thất Khê cũng ở gần đó nhưng thuộc Lạng Sơn. Cả hai nằm trên quốc lộ 4 nối Lạng Sơn với Cao Bằng. Tôi đã viết về trận này). Nguyên nhân lớn nhất của thắng lợi này là sự viện trợ tận tình của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Liên Xô, sự nhiệt tình cảm động của các đồng chí Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông không nề hà gian khổ chấp hành chỉ thị của các đồng chí trực tiếp để giúp đỡ chúng tôi. Tôi cần nêu lên công lao đặc biệt của Trần Canh, Nhiệm Cùng, Vân Dật, Thiên Hựu, Quý Ba, Kiếm Anh, Phương Phương, Quốc Thanh và các đồng chí cố vấn trong chiến dịch. Tóm lại, tôi cho rằng thắng lợi này là thắng lợi của đường lối Mao Trạch Đông cách mạng, quốc tế chủ nghĩa. Tôi không nói lời khách sáo: “Cảm ơn các đồng chí”, mà nói các đồng chí Việt Nam và nhân dân chúng tôi sẽ nỗ lực hơn nữa giành lấy thắng lợi cuối cùng lớn hơn, lấy thành công để đền đáp sự kỳ vọng tha thiết và giúp đỡ to lớn của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Liên Xô anh em”.
Tuy thiệt bại không có lớn, nhưng Tướng Carpentier của Pháp rất ngạc nhiên vì Cộng quân đã xử dụng súng đại bác 75 ly và 105 ly để tấn công. Từ trước không hề có chuyện đó. Pháp bắt đầu nhận ra rằng Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Minh để chống lại Pháp.
HUẤN LUYỆN VÀ TRANG BỊ CHO VIỆT MINH
Cố vấn Vi Quốc Thanh cho biết
“Hiện nay (tức lúc đó) Việt Nam thành lập 3 đại đoàn (sư đoàn), có đại đoàn vừa mới thành lập sau khi La Quý Ba đến Việt Nam. Ý kiến của phía Việt Nam là ngoài cơ quan Bộ Tổng tham mưu ra, bước thứ nhất phải chọn cử cố vấn các cấp của ba sư sang Việt Nam”.
Cố vấn Vu Hoá Thầm cho biết thêm:
“Trần Canh và Vi Quốc Thanh thông qua trao đổi với Võ Nguyên Giáp và nghe Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam giới thiệu tình hình, đã hiểu được tình hình cơ bản của hai phía địch và bạn, và tình hình chuẩn bị chiến dịch:
“Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam tuy đã bước vào năm thứ năm, nhưng Quân đội Nhân dân Việt Nam về cơ bản vẫn ở giai đoạn đánh du kích, chưa qua chiến đấu đánh, tiêu diệt một tiểu đoàn địch hoàn chỉnh trở lên. Hiện nay tuy đã thành lập 2 đại đoàn (đại đoàn 304 và 308) và 3 trung đoàn độc lập (trung đoàn 174, 209, 148) nhưng đại đoàn đoàn đều chưa qua tác chiến tập trung, trung đoàn cũng rất ít có kinh nghiệm tác chiến tập trung, về cơ bản vẫn là lấy tiểu đoàn, đại đội làm đơn vị phân tán tiến hành chiến tranh du kích.
Cố Vấn La Qúy Ba nói rõ:
“Trong mấy năm công tác tại Việt Nam, tiến hành viện trợ và giúp đỡ Việt Nam, bất kể là cung cấp viện trợ cho Việt Nam bao gồm vũ khí đạn dược, trang bị quân sự, lương thực, vải vóc, thuốc men y tế, máy móc thông tin, phương tiện giao thông, các loại thực phẩm v.v... hay bất kể là giới thiệu kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của Trung Quốc cho Việt Nam, giúp Việt Nam tác chiến và công tác, chúng tôi đều làm theo chỉ thị và dạy bảo đó của Mao Chủ tịch, Trung ương Đảng.”
Với lực lượng yếu kèm lúc ban đâu như vậy, nhưng nhờ được viện trợ dồi dào và sự huấn luyện của các cán bộ Trung Quốc, quân đội Việt Minh đã ngày càng lớn mạnh và có thể đương đầu với Pháp. Chúng ta thấy, trong trận Điện Biên Phủ, Việt Minh và Trung Quốc đã huy động được một lực lượng hùng hậu như sau:
Ba sư đoàn 304, 308 và 312, mỗi sư đoàn có đủ toàn bộ 3 trung đoàn. Sư đoàn 316 với 7 tiểu đoàn và một tiểu đoàn pháo. Sư đoàn 351 gốm có: Trung đoàn pháo 675 với 15 đại bác sơn pháo 75 ly và 20 súng cối 120 ly; Trung đoàn 41 với 3 tiểu đoàn pháo 105 ly; và Trung đoàn phòng không 367 với 36 súng cao xạ kiểu Liên Sô. Tất cả lực lượng này đều do Trung Quốc huấn luyện và trang bị.
Tính chung Cộng quân đã xử dụng 63.000 quân chính quy cho trận Điện Biên Phủ, trong đó có 50.000 đối điện tại mặt trận và 13.000 phụ trách việc yểm trợ. Ngoài ra, có khoảng 30.000 dân công được huy động để khuân vác đạn dược và lương thực. Trên 600 xe vận tải kiểu Molotova được xử dụng để vận chuyển trên một con đường dài 1.000 cây số từ các tỉnh Trung Hoa đến Điện Biên Phủ. Một đạo quân xe thồ và gồng gánh cũng được huy động để đưa tiếp liệu từ hậu phương ra tiền tuyến.
Hiện nay đang có tranh luận về kế hoạch tấn công Điện Biên Phủ và điều khiển trận chiến này là do các cố vấn Trung Quốc hay do “đỉnh cao trí tuệ loài người” của đảng CSVN. Các tài liệu của Trung Quốc mới công bố cho thấy các cố vấn Trung Quốc đã đóng vai trò chính trận chiến Điện Biên Phủ. Đảng CSVN đã chỉ thị cho các cấp tìm tài liệu để phản chứng ngược lại, nhưng chưa thấy công bố. Đây là chuyện dài chúng tôi sẽ trình bày trong một dịp khác.
TẠI SAO GIÚP VIỆT NAM?
Cố Vấn La Qúy Ba cho biết:
“Trong tình hình trong nước, quốc tế lúc bấy giờ rất nghiêm trọng, nhiệm vụ nặng nề, khó khăn rất lớn, Mao Chủ Tịch, Trung ương Đảng vẫn không chút do dự quyết định viện trợ cho Việt Nam chống Pháp, ra sức cung cấp viện trợ quân sự, viện trợ tài chính kinh tế vô tư và không hoàn lại cho Việt Nam, cử cố vấn sang giúp Việt Nam tác chiến và công tác. Điều đó chứng tỏ đầy đủ tinh thần quốc tế vô sản vĩ đại của Mao Chủ tịch, Trung ương Đảng.”
Còn Mao Trạch Đông tuyên bố:
“Bọn xâm lược thực dân Pháp là kẻ thù của nhân dân Việt Nam, cũng là kẻ thù của nhân dân Trung Quốc; Trung Quốc giúp Việt Nam đánh bại quân xâm lược thực dân Pháp, lập lại hoà bình ở Việt Nam, đó là Trung Quốc giúp Việt Nam. Còn Việt Nam đánh bại bọn xâm lược thực dân Pháp, đuổi chúng ra khỏi Việt Nam, biên cương phía Nam của Trung Quốc cũng giải toả khỏi mối đe doạ của bọn xâm lược thực dân Pháp, đó lại là Việt Nam giúp Trung Quốc. Không thể chỉ nói Trung Quốc giúp Việt Nam, phải nói rằng Việt Nam cũng giúp Trung Quốc, là sự giúp đỡ lẫn nhau”.
Trong tập “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”, đảng CSVN cho biết rõ hơn.
Chủ Tịch Mao Trạch Đông khẳng định:
“Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Châu Á bao gồm miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore... Một vùng như Đông Nam Châu Á rất giàu, ở đây có nhiều khoáng sản... xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy...”
Còn Thủ Tướng Chu Ân Lai nói:
“Nước chúng tôi lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong Đảng Lao Động Việt Nam mở cho một con đường xuống Đông Nam Châu Á.”
Nói một cách khác, Trung Quốc muốn biến Đảng CSVN thành một tên lính đánh thuê (mercenary) của Trung Quốc.
KẾT QUẢ TAI HẠI
Khi nhận viện trợ kinh tế và quân sự của Trung Quốc, đảng CSVN phải thi hành chính sách “cải tạo xã hội chủ nghĩa” rập khuôn theo kiểu mẫu của Trung Quốc, điển hình nhất là chính sách cải cách ruộng đất.
Bộ “Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000”, tập 2, (giai đoạn 1955-1975) do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản tại Hà Nội năm 2004, cho biết cuộc Cải Cách Ruộng Đất đợt 5 (1955-1956) được thực hiện ở 3.563 xã, với khoảng 10 triệu dân. Tỷ lệ địa chủ được quy định trước là 5,68%. Các đội và các đoàn Cải Cách Ruộng Đất đều ra sức truy bức để cố đôn tỷ lệ địa chủ lên 5% như đã quy định. Như vậy tổng số người bị quy là “địa chủ” phải là trên 500.000 người. Cũng theo tài liệu này, có 172.008 người đã bị đấu tố, tức bị giết. Tuy nhiên, sau khi sửa sai và kiểm tra lại, Đảng và Nhà Nước nhận thấy trong số 172.008 nạn nhân của cuộc Cải Cách Ruộng Đất, có đến 123.266 người được coi là oan (chiếm đến 71,6%).
Sau đây là những con số cụ thể về các nạn nhân:
Địa chủ cường hào gian ác: 26.453 người, trong đó số được coi bị oan là 20.493 người (77,4%);
Địa chủ thường: 82.777 người, trong đó số được coi bị oan là 51.480 người (62,19%);
Địa chủ kháng chiến: 586 người, trong đó số được coi bị oan là 290 người (49,4%);
Phú nông: 62.192 người, trong đó số được coi bị oan là 51.003 người (82%).
Khi đảng CSVN không đi theo đường lối “cải tạo xã hội” của Mao Trạch Đông mà theo đường lối của Liên Sô, Trung Quốc đã “dạy cho Việt Nam một bài học”!
Qua các sự kiện lịch sử được công bố, các sử gia và các nhà phân tích đều đi đến kết luận rằng nếu năm 1945 đảng CSVN không đưa đất nước Việt Nam đi theo chủ nghĩa cộng sản, dùng dân tộc Việt Nam làm vật thí nghiệm cho một chủ nghĩa phiêu lưu, Việt Nam đã thoát khỏi một cuộc chiến kéo dài 30 năm với những hậu quả rất thảm khốc. Nếu không có đảng CSVN, nước Việt Nam đã có độc lập và tự do từ lâu rồi.
Ngày nay, chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ ngay chính trung tâm đầu nảo của nó và các nuớc cộng sản còn lại, kể cả đảng CSTQ và đảng CSVN, đã không theo chủ nghĩa cộng sản nữa mà đi theo kinh tế thị trường. Điều này chứng tỏ cả đảng CSTQ lẫn đảng CSVN đã mặc thị nhìn nhận đi theo con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm.
Về sự viện trợ và vai trò của Trung Quốc trong trận Điện Biên Phủ, Giáo Sư Nguyễn Quang Ngọc, Viện Trưởng Viện Việt Nam Học ở Hà Nội, đã nói:
“Trước đây, phần nào các nhà nghiên cứu không quan tâm tài liệu Trung Quốc. Nhưng sau việc Trung Quốc công bố, đã có nhiều hội thảo ở Bắc Kinh, nhiều nơi khác. Tài liệu của các bên đã được khai thác, để nhìn nhận khách quan hơn. Chứ bây giờ nếu thảo luận, mà anh nào cũng chỉ biết tài liệu của mình, khai thác có lợi cho mình thì như vậy là phi khoa học.”
Nói cách khác, lối viết sử một chiều, “ta hay địch dỡ”, “ta thắng địch thua”... mà đảng CSVN và đa số người Việt chống cộng ở hải ngoại đã theo đuổi trong mấy chục năm qua, sẽ phải nhường chỗ cho những sự thật lịch sử đang dần dần xuất hiện.
Lữ Giang
(12.5.2009)

BỘ MẶT THẬT CỦA CSVN SAU NGÀY 30-4-1975



Bộ mặt thật của CSVN sau ngày 1-5-1975

Vài giờ, sau khi chiếc trực thăng cuối cùng chở toán quân của Thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến Mỹ Jim Kean, rời nóc bằng của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Miền Nam VN, để bay ra biển Ðông, lên hạm về nước, trong danh dự. Cũng là lúc bộ đội Bắc Việt vào Sài Gòn bỏ ngỏ, qua lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh. Cái bi hài của vở kịch, nước mắt trước cơn mưa, là lúc mà chính phủ hai ngày của VNCH đang hồ hởi hòa hợp hòa giải, để chờ chim bồ câu trắng hòa bình hiện ra, thì cũng là giờ G ngày N của Hà Nội đã điểm.
Ðây cũng là thời khắc mà tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Q.Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, nhân danh TT Minh, ra lệnh cho các Ðơn Vị Miền Nam đang phòng thủ quanh Sài Gòn, phải cố giữ vững vị trí chiến đấu, chờ sáng để nhận được phép lạ từ trên trời rớt xuống. Lúc đó, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya đêm 29 rạng sáng ngày 30-4-1975. Ðây là giờ qui định của Bộ Tư Lệnh Miền do Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, Trần văn Trà chỉ huy... ban lệnh cho B3 hợp đồng, với tất cả các lộ quân từ năm hướng, đồng loạt tấn công vào nội thành thủ đô. Ðó cũng là thời gian lộ mặt của các đội Biệt Ðộng, Ðặc công... từ các nơi nằm vùng, nổi dậy bắt liên lạc với các cánh quân bên ngoài. Ðó là giờ qui định cho tất cả cán bộ đảng, cán bộ chính trị nằm trong hàng ngũ VNCH, lột mặt nạ cầm đầu sư đoàn 304 quàng khăn đỏ, đang có mặt khắp thôn làng hẻm phố, sẵn sàng tiếp thu chiến lợi phẩm và còng bắt tù binh, nếu cần hạ sát tại chổ..
Cũng từ đó lịch sử dân tộc được lật sang trang, chấm dứt một cuộc chiến dơ bẩn nhất tại VN, do cọng sản dàn dựng từ đầu đến cuối, với mục đích tạo cảnh chiến tranh, để đổi đời, nắm quyền, do một thiểu số cùng đinh cực ác trong xã hội xướng xuất.
Cho nên thành phố Sài Gòn, một địa danh được các vị chúa Nguyễn và người dân Ðại Việt tạo dựng bằng mồ hôi máu mắt, từ ba trăm năm trước, cũng bị mất tên và được gán vào danh xưng Hồ Chí Minh (đại phản tặc của dân tộc, mà đời đời kiếp kiếp bị bia miệng nguyễn rũa.), như những thành phố tại Nga Sô Viết, trong thời kỳ cách mạng tháng mười năm 1917. Xin mượn những lời thơ hào hùng của Lê Khắc Anh Hào và bắt chước Trạch Gầm, được chưởi cha tên Hồ Tặc và bè lũ CSVN “buôn dân bán nước” đã và đang mở cửa rước voi Tàu vào giầy Mã Tổ Việt, không phải chỉ ở Lâm Ðồng, Quảng Ðức tại cao nguyên Trung phần, mà khắp non sông xã tắc từ Hải Ninh vào tận Cà Mâu, mà hiện nay toàn dân trong và nước ai cũng biết, cũng oán hận căm thù trước hành vi phản quốc có một không hai trong dòng Sư Việt : Có kẻ vô tình hỏi thử taCó dám nói một lờiHồ Chí Minh suốt cả cuộc đờiChỉ là một tên PHẢN QUỐC
Tại sao không ?Ðúng ! Hồ Chí Minh là mầt tên phản quốc !Ta có thể chẻ từng cọng tócLấy từng phân lần ra tội họ HồMột kẻ cam chịu làm thân con chó nhỏCho tên thầy vĩ đại Liên XôÐầy đọa muôn dânXé nát cơ đồKẻ như thế thì nói một lời phản quốc đâu đủ chỗ !Thời đại văn minhLúc cả thế giới đang vươn lên hăm hởThì ở VN toàn dân gần như đóng khốNgười sống vật vờ đầu đường xó chợKẻ chết trăm năm còn đau thân dưới mộHắn phản quốc và hắn là đồ bỏCâu trả lời chả có gì là khó !
Hồ Chí Minh là tên phản quốc!Ta muốn hét vỡ tinh cầu để nói thật ,Vạn lần mà chả sợVì trong tim ta vẫn còn máu đỏCủa một VN vong quốc đoạn trườngTóc bạc màu theo từng cọng đau thươngTa mất quê hương, Hồ là thủ phạmTại sao người lại hỏi ta CÓ DÁM ??(CÓ DÁM , Thơ Lê Khắc Anh Hào)
Cũng nhờ cách mạng, giải phóng nên từ đó tới nay, đồng bào cả nước, trước sau rủ nhau xuống hố xã hội chủ nghĩa, để tìm thiên đàng Mác-Lê-Mao-Hồ, trong vũng bùn duy vật biện chứng pháp, mà gần hết nhân loại đã ném vào cát bụi, từ những năm đầu thập niên, cuối thế kỷ XX khi Liên Xô, Ðông Ðức, Ðông Âu tan hàng, trước chủ nghĩa tự do, dân chủ, mà không cần phải đốt rụi Trường Sơn, giết hại hằng triệu triệu người Việt của hai miền.
Một trăm hai mươi lăm nhà báo da trắng, da màu đủ loại nhưng tuyệt đối đều sùng bái VC như thần thánh, trong suốt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1960-1975), sau ngày bị chính quyền mới trục xuất , đều viết : ‘Quang cảnh Sài Gòn ngày hôm đó cũng vẫn như mọi ngày. Nếu có khác biệt, đó là sự hiện diện của những bộ đội miền bắc, với quân phục may bằng vải kaki nội hóa màu xanh lá cây, đầu đội cối có gắn sao, chân mang dép râu làm bằng vỏ xe phế thải. Tất cả ngơ ngơ ngáo ngáo như người cõi trên, trước cái cảnh trang đài sang giàu lầu cao phố đẹp của Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Ðông, không giống với luận điệu tuyên truyền của đảng... là dân nguỵ bị Mỹ-Thiệu kềm kệp, nên nghèo mạt rệp, rách đói đến nỗi, ngay cả trí thức nhà báo khao bảng, cũng phải đi ăn mày.. ’ ’ Tóm lại Sài Gòn ngày đó như mọi ngày, chẳng thấy ai tiếp đón ai, cũng không có cảnh biểu tình đồng khởi hoan hô mà đảng hằng mong đợi. Người Sài Gòn đã dững dưng trước thời cuộc, như chưa hề biết là đã đổi đời.
Củng hôm đó, trên đại lộ Thống Nhất dẫn vào Trung tâm quyền lực nhất của Nam VN. Ðó là Dinh Ðộc Lập, mà mới vài giờ trước đây, chính khứa quan quyền đủ loại ra vào tấp nập để xin quan mua chức. Nay quang cảnh vắng hoe, kể cả người lính gác cổng cũng cao bay xa chạy, đang được bộ đội Bắc Việt, tùng thiết trên mấy chiếc T54 của Liên Xô viện trợ, tới tiếp thu một căn cứ quân sự bỏ ngỏ, không phòng thủ.
Một vài chục tên Việt gian thời cơ, trở cờ, cánh tay mang băng đỏ, tay khác cầm cờ máu, lá cờ mà mấy chục năm nay cứ khoe là của nước Việt, mặt thật là sao chép y chang cờ máu của đảng Tàu Cộng, ngược xuôi xuôi ngược hò hét lập công. Nhưng mùa xuân có trăm hoa đua nở, có vạn vật hài hoà.. cho nên với một lá cờ máu tạo dựng bằng núi xuơng sông máu đồng bào, bán nước bán đất, tiêu diệt tín ngưỡng cùng văn hiến dân tộc, đang do một đám sâu bọ đội lớp người trí thức dân chủ, cổ võ bung xung, thì làm sao dựng nổi một mùa xuạn ? Văn Tiến Dũng, Bùi Tín quen tuyên truyền nên đã loạn ngôn cuồng bợ, viết sai các dữ kiện lịch sử trong ngày “Sài Gòn bỏ ngỏ tháng 4-1975, từ lúc Dương Văn Minh phát tiếng trong đài, ra lệnh QLVNCH, phải buông súng đầu hàng quân Bắc Việt “, qua các tác phẩm mang tên “Mùa Xuân Ðại Thắng, Ánh Sáng của lịch sử …”
Hôm đó phường phố Sài Gòn thật sự vắng hoe, cũng không có cảnh xuống đường với biển người rừng cờ như Hà Nội và đám Việt Gian Miền Nam mong đợi, để nhờ bọn ký giả phương tây thân cộng lúc đó, quay phim chụp ảnh, tuyên truyền với thế giới bên ngoài rằng là cách mạng giải phóng đã thành công.. Chỉ có một vài kẻ đa sự, tình cờ hay bị bắt buộc, bặm môi dừng lại bên đường, để trố mắt nhìn bộ đội miền bắc và tăng pháo do Nga-Tàu viện trợ, mà mới hôm qua đọc trên các báo chí đối lập Sài Gòn, nói là quân Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, do anh Tho, chị Bình, chị Ðịnh… chỉ huy để chống lại chính phủ VNCH tham nhũng, gian ác, đàn áp tôn giáo, ngăn cấm tự do…
Chỉ có đám dân chiến nạn từ miền Trung, di tản theo lính vào Sài Gòn, giờ bơ vơ đói rách, bồng bế nhau hồi cư theo lệnh của chủ mới. Chỉ có những quân, công, cán , cảnh Miền Nam tan hàng rã ngủ, biết thân phận mình, rủ nhau tới các địa điểm trình diện. Sau rốt là đại đa số dân nghèo cưc, không có phương tiện hay chẳng bao giờ mơ ước xuất ngoại, nên đành ở lại với cảnh tranh tối tranh sáng, kéo tới các kho đụn, nhà giàu, sở Mỹ cùng dinh thự đồ sộ của các quan tướng.. đã bỏ chạy, để hôi của kiếm ăn. Sài Gòn mặt thật của những phút giờ đổi đời là thế đấy. Hiện có nhiều nhân chứng hôm đó, chắc là còn sống, tuy tuổi đã cao nhưng không mất trí nhớ, đang ở khắp các nẻo đường hải ngoại, thì ai dám bẻ cong ngòi bút, lếu láo vẽ rắn thêm chân, đem thúng úp voi, dấu đầu lòi đuôi cho được ?
Người dân Sài Gòn cố gắng mở to đôi mắt hôm đó, để tìm trong hàng ngũ bộ đội tân lập 304 băng đỏ, cũng dép râu, nón tai bèo và khăn rằn xanh quàng cổ, hình dáng thân thương của các thầy, quý cha, anh chị em văn nghệ sỹ.. từng hò hét khản cổ, kêu gọi phản chiến, hòa hợp hòa giải năm xưa. Nhưng hỡi ơi, trong đó tìm hoài đâu thấy một ai. Các vị chỉ muốn đấu võ mồm, đâm sau lưng người lính, phá thối chính quyền đương thời. Ðến lúc nhà tan nước mất, giặc Bắc không hòa hợp mà chỉ xâm lăng, cướp của giết đồng bào… thì các vị cũng đã nhanh chân ôm Mỹ, để kịp chạy ra hải ngoại, tiếp tục đối lập trọn đời, để lần nữa phá thối cuộc sống tạm dung chốn quê người, của những thân phận VN, cũng vì họ mà ngày nay phải sống đầu đường xó chợ, khác nào những tên nô lệ Pháp, Mỹ, trên vạn nẻo đường lưu vong, lấy nước mắt làm canh, đêm ngày hoài mơ viễ n xứ, thương khóc tưởng nhớ quê mình.
Bảy mươi chín năm trôi qua (1930-2009), dù bây giờ chuyện gì người dân cũng đã biết đủ. Thế nhưng cọng sản và Việt gian, thì chứng nào tật đó, vẫn tỉnh bơ hãnh diện, tiếp tục gian dối bịp lừa đồng bào. Tóm lại, đối với cọng sản, tất cả chỉ là giai đoạn, nên không bao giờ có chuyện tình nghĩa đồng chí, đồng đảng, đồng đội.. thì nói làm chi tới tình đồng bào, đồng nước. Cũng nhờ gần hết bí mật lịch sử cân đại, được khai quật phổ biến, nên ngày nay chúng ta mới nhận diện được bộ mặt thật của những người, từng ôm nhau hôn hít, từng nhận là anh em môi hở răng lạnh hay sông liền sông, núi kế núi.. thế nhưng cũng chẳng có gì, ngoài nhu cầu hợp tác và giai đoạn.
Sau năm 1990, Liên Bang Sô Viết và Nam Tư tan rã thành từng mảnh vụn. Những người mới đó cùng đứng chung dưới một màu cờ, một đảng bộ.. đã vội bôi mặt chém giết nhau một cách tận tuyệt. Tuy nhiên bi thảm hơn hết, vẫn là sự tương tàn đẫm máu, giữa ba đảng Tàu, Việt và Miên Cộng.. xảy ra từ các năm cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, sau khi đệ tam quốc tế đã tạm hợp tác, thỏa hiệp chống Mỹ thành công. Từ kinh nghiệm năm đó, giờ nhìn lại thái độ lưng chừng của Việt Cộng, trong vai trò chọn lựa để được làm đầy tớ Hoa Kỳ hay Trung Cộng, khiến cho đồng bào trong và ngoài nước phải ngao ngán, vì biết chắc dù VC có theo ai chăng nữa, thì đất nước lần nửa, rồi sẽ tan nát nếu có chiến tranh xảy ra.
Lần trước Polpot và Ðặng Tiểu Bình mới chỉ có tàn sát đồng bào vô tội cũng như tàn phá tận tuyệt các tỉnh biên giới của VN. Lần này Trung Cộng binh hùng vũ khí tối tân, lại có nhiều tấn bom nguyên tử, chắn chắn là Tàu sẽ thẳng tay tiêu diệt con Hồng cháu Lạc cả nước, nếu đảng CSVN mà đại diện bán nước hiện nay là 13 tên trong chính trị bộ, dám giở thói lọc lừa ba que với chúng, khi đã nhận hàng tỷ đô la đút lót của Tàu phù, mà không trung thành với chủ theo lệnh “Hợp Tác Toàn Diện” mặt thật là bán nước cho giặc . 1 - KHMER ÐỎ TẤN CÔNG TÀU BUÔN HOA KÝ :
Nam Vang thất thủ trước Sài Gòn mười ba ngày (17-4-1975). Ðể chiếm thủ đô, Polpot đã ra lệnh cho Khmer đỏ, pháo kích bừa bãi dã man vào thành phố, gây thương vong nhiều người vô tội, tại các khu vực đông dân cư, làm tê liệt phi trường Pochentung. Vì vậy Ðại sứ Mỹ là John Gunther và tổng thống Lonnol (kẻ đã ra lệnh cáp duồng hằng vạn Việt Kiều tại Kampuchia năm 1970 ), nếu không nhanh chân chạy lên trực thăng vù ra biển, chắc cũng đã bị Polpot phanh thây như triêu người dân Miên khác bị kẹt lại.
Ngay khi chiếm được nước, các lãnh tụ Miên đỏ đã bất chấp luân thường đạo lý, ra lệnh tàn sát gần hết đồng bào mình, một cách rùng rợn. Thảm trạng có một không hai trên, đã khiến cho nhân loại, dù ở tận phương trời góc biển, đã phải xanh mặt, tím ruột, khi được đối diện với mặt thật của những hung thần cọng sản quốc tế, qua hình ảnh của địa ngục trần gian ‘ The Killing Fields (Những cảnh đồng xác người )’.
Ngoài ra theo lệnh chủ mới là Tàu Cộng, Polpot trả ơn Việt Cộng, chủ cũ cũng là kẻ đã cưu mang chúng từ khi còn trong trứng nước, tới hồi lớn mạnh, bằng cách tấn công biên giới, biển đảo, để mong chiếm lại miền Thủy Chân Lạp của 300 về trước, đã bị VN tới khai thác khi bị bỏ hoang.
Polpot cũng đã mở màn cho cuộc chiến Ðông Dương lần thứ III (1975-1990), bằng lệnh khai hỏa vào chiếc tàu buôn của Mỹ tên Mayaguez, trong lúc đang bỏ neo ngoài khơi hai đảo Kohtang và Poulo Wai (Ðảo Trọc), nguyên là lãnh thổ của VN, nằm trong vịnh Phú Quốc, bị Khmer đó chiếm sau tháng 4-1975.
Ngay khi bị lực lượng người Nhái của Polpot tấn công, thuyền trưởng chiếc tàu buôn trên, đã đánh khẩn điện về nước để cầu cứu và đã được chính Tổng Thống Mỹ lúc đó là Ford, ra lệnh cho TQLC cùng Không quân, đang ở căn cứ Utapao (Thái Lan), đến giải thoát họ. Nhưng Polpot khôn ranh, đã ra lệnh cho kéo chiếc tàu trên cùng thủy thủ đoàn 37 người, về giam tại hải cảng Kompong Som, trước khi TQLC Mỹ dùng trực thăng, đổ bộ lên đảo Poulo Wai, sáng ngày 15-5-1975.
Một trận ác chiến sau đó, đã xảy ra trên đảo Kohtang, giữa TQLC và quân Khmer đỏ. Kết quả có hai trực thăng Mỹ chở quân bi bắn hạ và ngay cả TQLC cũng bị vây khổn trong trận địa. Ðể giải vây quân tiếp viện cũng như chiếc tàu buôn đang bị bắt, lần nữa TT Ford ra lệnh cho KQ tại Thái Lan, oanh tạc Nam Vang và hải cảng Kompong Som, phá hủy nhiều máy bay Mig của Trung Cộng vừa viện trợ, đồng thời đốt rụi nhà máy lọc dầu duy nhất của Kampuchia tại hải cảng Sihanouk. Thấy Hoa Kỳ làm dữ quá, Polpot giả vờ đổ thừa cho địa phương vì phương tiện truyền tin eo hẹp, nên không nhận được lệnh Trung Ương, rồi ra lệnh thả chiếc tàu buôn cùng thủy thủ. Ngoài ra TQLC cũng được lệnh rút khỏi đảo Kohtang, bỏ lại xác hai chiếc trực thăng. Trong trận chiến này, có 15 binh sĩ Mỹ tử thương trong khi đụng độ.
Vụ tàu buôn Mỹ Mayaguez bị tấn công và 15 TQLC bỏ mạng, trên đường hồi hương, được Ford cùng báo chí giữ kín. Người Mỹ muốn gì khi im lặng hay thật sự đã nhìn thấy trước, cảnh huynh đệ tương tàn trong các đảng cọng sản đệ tam quốc tế. Sau này qua các tài liệu đã giải mật, được Ford giải thích:“Ðó là sự châm ngòi cho ý nghĩa mới. Một cơ hội để cho các đảng cộng sản anh em tự thanh toán lẫn nhau, dọn đường cho tư bản trở lại Ðông Dương và Ðông Nam Á”. Cuối cùng Hoa Kỳ đã tiên đoán đúng. Từ thập niên 90 về sau, chẳng những các nước Ðông Dương, mà ngay cả Trung Cộng, Liên Bang Nga lẫn Bắc Hàn, đều trải thảm đỏ, mở cửa rộng, để quỳ đón Âu Mỹ, Nhật, Triều Tiên…đem đô la vào cứu đảng.
2 - CUỘC CHIẾN ÐẲM MÁU GIỮA VIỆT CỘNG VÀ MIÊN CỘNG :
Theo các tài liệu hiện hành, ta biết đảng cọng sản Cam Bốt được thành lập vào tháng 9-1951, qua danh xưng ‘ Ðảng Nhân Dân Cách mạng Khmer ố Khmer People ‘s Revolutionary Party ‘ thường viết tắt là KPRP. Polpot tên thật là Saloth Sar, người Việt gốc Miên. Trong thời gian du học tại Pháp, qua sự móc nối của một đảng viên VC tên Phạm văn Bá, từng hoạt đông tại Nam Vang, nên Polpot gia nhập đảng KPRP năm 1953. Hiệp định về Ðông Dương, ký tại Geneve 1954, ra lệnh cho đảng này giải tán. Do đó hơn 2000 đảng viên KPRP phải tập kết tới Hà Nội. Chính sự tan rã của đảng cọng sản Miên, là nguyên cớ sau này để Polpot vin vào lên án VC đã bán đứng đồng chí, khi cuôc chống Pháp của hai đảng đã đạt được thành công.
Tuy nhiên dù bị cấm đoán, cọng sản Miên vẫn âm thầm hoạt động lén lút, dưới sự lãnh đạo của Shieu Hang và Ton Samouth. Từ tháng 7-1962, Polpot mới được cử làm Bí thư đảng, hoạt động chung với Ieng Sary và Son Sen. Bắt đầu từ năm 1965 trở về sau, Mỹ ào ạt đổ quân vào Nam VN, làm cường độ chiến tranh càng lúc càng gia tăng. Tai Miên, ngoài mặt Sihanouk mang chiêu bài trung lập, nhưng đã gần như công khai để cọng sản Bắc Việt sử dụng lãnh thổ xứ chùa Tháp, làm căn cứ điạ dưỡng quân, đồn trú, lánh nạn và trực tiếp nhận viện trợ của khối cọng sản, tại hải cảng Sihanoukville. Mục đích cũng chỉ để trục lợi mà thôi. Trong giai đoạn này, Bắc Việt đã lập một đơn vị đặc nhiệm, gọi là P36 chuyên huấn luyện bộ đội Khmer đó của Polpot, cũng như ngăn cản không cho đụng chạm tới quân đội Hoàng gia Cam Bốt của ông Hoàng Sihanouk.
Năm 1970, lợi dụng Sihanouk xuất ngọai, tướng Lonnol và Hoàng thân Sirik Matak làm cuộc đảo chánh và đón quân Mỹ vào. Nhờ vậy gần như tất cả các căn cứ địa của bộ đội Bắc Việt và Khmer đỏ, trú đóng trên đất Miên bị tiêu diệt bởi Mỹ giội bom và các cuộc hành quân Toàn Thắng, của liên quân Hoa Kỳ-VNCH.
Trước nguy cơ bị tiêu diệt, lần nữa hai đảng cọng sản anh em lại hợp tác để sống còn. Rồi lợi dụng tiếng tăm của Sihanouk, Bắc Việt dụ dỗ tuyên truyền dân chúng Miên gia nhập bộ đội, giúp cho lực lượng Khmer đỏ lên tới 30.000 quân. Tất cả đều do Hà Nội cưu mang, từ huấn luyện cho tới trang bị và tiếp tế. Trong những lần đụng độ với quân của Lonnol, bộ đội Bắc Việt luôn đi đầu hứng đạn, còn lính của Polpot thi đi sau, nếu thắng thì đòi chia chiến lợi phẩm. Ngược lại khi bộ đội Bắc Việt thua trận, quân Polpot lập tức bỏ chạy hay ác hơn là bắn lén sau lưng. Tình đồng chí của cọng sản là vậy đó.
Năm 1972, Polpot nghe lời dụ của cáo già Kissinger hợp mật. Nhưng đây chỉ là kế ly gián của Mỹ, nhằm gây rạn nứt giữa hai đảng cọng sản. Vì sau đó Mỹ đã oanh tạc từ 257-465 tấn bom xuống tàn phá gần hết các căn cứ của quân Khmer đỏ, rồi phao tin là Hà Nội đã chỉ điểm. Ðòn chí tử này đã khiến Polpot trở mặt chống Bắc Việt từ đó nhưng ngoài mặt thì giả vờ liên minh hợp tác.
Tháng 8-1974 Polpot hạ sát 71 đảng viên cong sản Miên thân Hà Nội. Tiếp theo vào tháng 9 cùng năm có 100 người khác cùng chung số phận. Nhưng trong số này có 2 người còn sống sót tên Hemsamin và Yospor trốn thoát tới Bắc Việt. Chưa hết, có 2 phóng viên Bắc Việt bị giết tại Kampong Chàm và trọn một phái đoàn của MTGPMN, từ Mỹ Tho vào tham quan vùng xôi đậu trong Ðồng Tháp Mười nhưng lại lạc qua Miên, bị Khmer đỏ phục kích hạ sát. Thêm vào đó, đã có hàng vạn Việt kiều bị Khmer đỏ cáp Duồng.
Tất cả Hà Nội đều biết, nhưng vẫn im lặng, đã vậy Bắc Bộ Phủ còn nỗ lực giúp cho Polpot chiếm được Kampuchia và Nam Vang vào ngày 17-4-1975. Ngoài ra để che dấu sự thật, mục đích phỉnh gạt đồng bào, lừa bịp dư luận thế giới, hằng ngày hai đảng vẫn ra rả lập đi lập lại những từ ngữ hào nhoáng tuyên truyền như ‘ Ðoàn kết vĩ đại, tình hữu nghi anh em cách mạng Cam Bốt-Việt Nam bất diệt.. ’ ’ Cuối cùng ngày 12-4-1975, Ieng Sary chính thức yêu cầu Trung Cộng, trực tiếp viện trợ cho Kampuchia mà không cần VN trung gian như từ trước.
Ðể mở màn cho bi kịch máu đã tới lúc chín mùi, ngày 4-5-1975, Polpot ra lệnh tấn công hai đảo Thổ Châu và Phú Quốc. Quân Khmer đỏ chém giết dã man hằng ngàn đồng bào vô tội, cướp của đốt nhà và trước khi rút, đã bắt 500 người VN, đa số là đàn bà con gái. Ðể trả đủa, ngày 18-5-1975, VC huy động hải lục không quân, tái chiếm hai đảo trên và đảo Pulau Wai mà Miên đã chiếm từ trước, bắt giữ 300 tù binh. Thấy VN làm dữ, Polpot lại xuống giọng. Rồi thì màn kịch đồng chí đồng đảng, được hai nước tô son trét phấn trở lại hằng ngày trên đài, trên báo, khi Mười Cúc-Nguyễn Văn Linh dẫn phái đoàn sang Cam Bốt thăm viếng xã giao ngày 2-6-1975. Ngược lại, Polpot cùng Ieng Sary và Noun Chen, trên đường sang chầu Trung Cộng, đã ghé Hà Nội để đáp lễ vào ngày 12-6-1975.
Tại Trung Cộng, tình hình nội bộ đảng cọng sản biến chuyển mạnh, sau khi Mao Trạch Ðông chết. Ðêm 6-10-1976, Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh và Uông Ðông Hưng… ra lệnh cho đơn vị đặc nhiệm tại Bắc Kinh 2341, bất thần tấn công, bắt trọn ổ Tứ Nhân Bang gồm Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn và Diệu Văn Nguyên…rồi tôn Ðặng Tiểu Bình lên ngôi hoàng đế đỏ, dù Hoa Quốc Phong vẫn là Tổng Bí Thư đảng bù nhìn.
Ðặng công khai ủng hộ Polpot, bất chấp dư luận thế giới đang nguyền rủa tên sát nhân và khmer đỏ. Từ đó qua chỗ dựa chắc chắn, Polpot theo hẳn Trung Cộng, cắt đứt liên hệ với VC. Về nước, Polpot ra lệnh hạ sát hơn 10.000 đảng viên, tại Trung tâm thẩm vấn Tuol Sleng ở Nam Vang, vì họ bị nghi là thân với Hà Nội. Máu của đồng bào hai nước tiếp tục chảy hằng ngày, trong lúc hai cái loa của hai đảng, vẫn không ngớt ca tụng, tuyên truyền tình hữu nghi thắm thiết, một cách trơ trẽn và lố bịch, khiến cho ai nghe cũng muốn lợm giọng.
Cuối tháng 3-1977, sau khi đã thanh trừng hết tay chân của Hà Nội, Polpot ban hành nghị quyết 870, công khai chống VN, ra lệnh tàn sát Việt kiều tại đất Miên, đồng thời tấn công các tỉnh biên giới.
Ngày 30-4-1977, trong lúc Bắc Bộ Phủ từ trên xuống dưới, đang mở đại tiệc ăn mừng chiến thắng cướp được VNCH, thì từ Hà Tiên, Châu Ðốc, An Giang, Ðồng Tháp lên tới Tây Ninh.. hằng chục sư đoàn Khmer đỏ, vượt biên giới tấn công vào các làng xã của VN. Giống như quan thầy Trung Cộng, lính Miên đỏ hung dữ dã man chưa từng thấy, qua hành động giết người rồi chặt đầu, mổ bụng, phanh thây và cắt bỏ các cơ quan sinh dục của nạn nhân. Sau đó đốt sạch nhà cửa và bắt hết trâu bò, heo ngựa của người Việt đem về Căm Bốt. Do sợ Trung Cộng, nên Hà Nội vẫn im lặng nhưng khắp nước đồng bào đều lên tiếng phản đối, cả tờ báo Quân Ðội Nhân Dân cũng lên tiếng đòi chính phủ trả đũa. Do trên, Bắc Bộ Phủ đã ra lệnh cho A37 oanh tạc, rượt đuổi quân Miên chạy về bên kia biên giới.
Tháng 8-1977, tờ Cờ Ðỏ của Polpot (Democratic Kampuchia Advance), cho phát hành một bản đồ nước Căm Bốt mới, không theo đường ranh Bravie cũ. Bản đồ này, ngoài lãnh thổ nước Kampuchia hiện hữu, còn bao gồm tất cả các hải đảo của VN và Nam Phần, mà Polpot gọi là Thuỷ Chân Lạp. Cùng lúc vào tháng 2-1992, quốc hội Trung Cộng cũng đã ban hành phổ biến một bản đồ của nước Tàu mới, trong đó hải phận Trung Hoa chạy dọc suốt bờ biển VN, Thái Lan, Mã Lai Á, Nam Dương, Brunei và Philippine. Như muốn đổ dầu vào lò lửa đang ngùn ngụt cháy, Ðặng Tiểu Bình, Hoa Quốc Phòng.. và đảng cọng sản Tàu, công khai cổ võ hành động Polpot chống lại VN.
Trước nổi cô đơn thê thiết vì bị Mỹ ngoảnh mặt, Tàu bỏ rơi, thế giới lợm giọng, đàn em Polpot phản bội và dân chúng miền Nam ù lì thụ động bất hợp tác. Vì vậy với bản chất lật lọng, quen chịu làm đầy tớ bất cứ ai nếu có lợi cho đảng và cá nhân. Nên VC lại chạy sang quì lạy Liên Xô, chịu gia nhập khối kinh tế Comecon và trên hết cho hải quân Nga vào các hải cảng Ðà Nẳng, Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu. Ngày 6-6-1977, một phái đoàn quân sự Nga tới thăm Hà Nội. Tháng 10-1977, VC cho chở một số lớn chiến lợi phẩm tịch thu của VNCH từ tháng 4-1975 gồm phi cơ, chiến xa, đại pháo.. sang bán cho Ethiopie, một quốc gia Bắc Phi, nói là để lấy tiền trả nợ cho Trung Cộng.
Cũng từ đó, VC công khai làm chư hầu Liên Xô, nên được đàn anh viện trợ cho một số quân dụng cũ, gồm 2 tàu ngầm, một khu trục hạm, 4 phi đội MIG 21 cùng với đoàn cố vấn Nga đông đảo. Như vậy thế chân vạc của cọng đảng trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ III đã thành hình. Một bên gồm Liên Xô-VC-Lào cộng. Phe kia có Trung cộng và Khmer đó. Người Mỹ đứng giữa đâm thọc cả hai phía, để giật dây cũng như đổ thêm dầu vào đám cháy đang rực lửa. Ðó cũng là lối trả thù quý phái của bọn tư bản nhà giàu, trong canh bạc bịp, được coi như lớn nhất thế kỷ XX.
Ngày 24-9-1977, Khmer đỏ lại vượt biên tấn công Tây Ninh, phanh thây xé xác hằng trăm đồng bào vô tội. Lần này Bắc Bộ Phủ lột chức Trần Văn Trà, cho Lê Ðức Anh thay thế. Một ký giả Hung Gia Lợi tên Sandor Giory đã tới tận hiện trường quay phim, chụp hình nhưng bị công an tịch thu phim máy. Ðã vậy, 4 ngày sau cuộc tấn công đẫm máu tại Tây Ninh, Hà Nội vẫn gủi điện văn tới chúc mừng Polpot, trong dịp lễ ăn mừng 20 năm thành lập đảng Miên Cộng.
Rồi thời cơ chín mùi qua sự hứa hẹn của LX sẽ ra mặt can thiệp nếu Trung Cộng tấn công VN. Ðể lấy lòng tin thằng đầy tớ mới, LX cho hằng chục sư đoàn trải dài khắp biên giới Nga-Hoa và phái một mẫu hạm thường trực tuần thám trong hải phận vịnh Bắc Việt. Cũng từ đó, Hà Nội mới bắt đầu trả đũa, tung quân chiếm lại các làng mạc bị Khmer đỏ cưởng chiếm. Quân VN còn thọc sâu vào lãnh thổ tỉnh Svay Riêng, để giải thoát cho các tướng lãnh Miên đang bị Polpot thanh trừng đuổi giết, như Hunsen, Heng Samrin, Bonthang.. đem về VN. Sau đó VC cho diễn lại vở tuồng củ năm 1960 ở miền Nam VN, dùng các quân bài trên, để thành lập cái gọi là ‘ Mặt Trận Giải Phóng Căm Bốt ‘.
Ngày 5-10-1977, Trung Cộng và Polpot chính thức ký một ‘ Nghị định thư ‘ (Protocol), để bổ túc cho Hiệp định quân sự, mà hai bên đã ký ngày 1-2-1976. Theo đó, Trung Cộng sẽ viện trợ quân sự cho Khmer đỏ vô điều kiện không hoàn trả. Ngày 1-11-1977, Trung Cộng cắt đứt đường bay Bắc Kinh-Hà Nội. Ngày 21-11-1977, Tổng bí thư Lê Duân sang chầu thiên triều xin tạ tội nhưng bị Ðặng Tiểu Bình xua đuổi. Thế là đảng VC quyết định theo hẳn Nga Sô chống Tàu Cộng từ đó, tuy nhiên trước khi sang Mạc Tư Khoa ký kết, Võ Nguyên Giáp được lệnh bí mật bay tới Tân Ðề Ly nhờ giúp đỡ. Nhưng thời thế đã đổi thay, vì lúc đó Ấn Ðộ theo Tây Phương, không trung lập thân cộng, nên đã từ chối lập tức. Thế là lò lửa chiến tranh giữa ba đảng anh em Tàu-Việt-Miên, đã chính thức bùng cháy, không ai có thể dập tắt được.
Sau khi đi Tàu cầu hòa lần chót bị thất bại nên phải chạy theo Nga, vì vậy Lê Duẩn quyết định tấn công trả đũa Polpot. Ngày 2-12-1977, quân đoàn 4 hay Binh đoàn Cửu Long, gồm các SD chính quy 7,9,341 có không quân, thiết giáp, pháo binh yểm trợ, do Hoàng Cầm chỉ huy, với quân số trên 60.000 người, cộng thêm nhiêu Thanh Niên Xung Phong lo phần tiếp vận, công binh.. đồng loạt tấn công tai chiếm phần đất Tây Ninh bị chiếm, rồi tràn vào đất Miên tiêu diệt Quân Khu Ðông của Khmer đỏ. Vì lúc đó Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh, đang thăm khối ASEAN, nên quân VN được lệnh rút về nước ngày 6-1-1978. Lập tức Ðại sứ Kiều Minh và toàn bộ ngoại giao đoàn bị trục xuất khỏi Nam Vang. Ngoài ra Polpot cho triệu hồi đại sứ Sokheng từ Hà Nội về rồi giết chết. Cũng từ đó, đã có sự rạn nứt trong nội bộ, đưa tới sự thanh trừng, làm suy yếu quân đội.
Trong trận tấn công vừa qua, VN đã giải thoát và đem về nước hơn 60.000 nạn nhân bị Polpot cáp duồng gồm Việt-Hoa kiều và một số dân Miên. Tất cả được tạm trú tại các Trại Tị Nan mới lập ở Bến Sành (Tây Ninh) và Bến Tranh (Ðịnh Tường), do Liên Hiệp Quốc bảo trợ. VC nhân cơ hội vào trại tuyên truyền và tuyển mộ lính. Ngày 15-2-1978, Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ, từ Hà Nội vào Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia của VNCH ở Sài Gòn, để chủ tọa buổi ra mắt cái gọi là ‘Mặt Trận Kháng Chiến Khmer ‘.Những cán bộ Miên Cộng thân Hà Nội như Pensovan, Chensi, Heng Samrin, Tang Soroun và Chesoth đều được chỉ định làm cấp lãnh đạo. Tân binh Miên được VN huấn luyện cấp tốc tại các quân trường cũ của miền Nam như Chí Lăng, Vị Thanh và Long Giao.Ngày 22-4-1978, thành lập Lữ Ðoàn 1 Kháng Chiến Miên, rồi đưa về nước đánh Polpot. Trong lúc đó, quân Khmer đỏ lại tự tàn sát lẫn nhau tại các tỉnh miền đông như Kampong Chàm, Svay Rieng và Prey Veng. Lợi dụng sự chia rẽ trên, VC kêu gọi dân Miên nổi lên lật đổ Polpot.
Tháng 6-1978, Hà Nội lại oanh tạc Kampuchia. Tháng 9-1978, Phạm Văn Ðồng sang du thuyết giải độc tại 6 nước ASEAN nhưng bị thất bại. Ngày 1-11-1978, Lê Duẩn, Phạm Văn Ðồng, Nguyễn Cơ Thạch .. lại sang Liên Xô, để ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa hai nước trong vòng 25 năm. Theo đó Nga đã viện trợ quân sự, cũng như nhân đạo 1,5 triệu tấn mễ cốc cứu đói. Ngoài ra Nga còn cam kết sẽ can thiệp, nếu Trung Cộng xâm lăng VN. Cũng vì quá tin tưởng vào lời hứa cuối này, mà VC đã sử dụng gần 3/4 quân số khi tấn công Khmer đỏ, nên không đủ lực lượng phòng thủ biên giới phía bắc, khi Trung Cộng xâm lăng VN.
Ngày 2-12-1978, Lê Ðức Thọ, Ðồng văn Cống... đã đến chủ tọa ngày thành lập ‘ Mặt Trận Cứu Nguy Cam Bốt ‘, gọi tắt là KNUFNS, tại một khu rừng già trong tỉnh Kratie vừa chiếm được. Tại đây đã tập họp được một lực lượng đông đảo chống Polpot gồm tân binh, lính khmer đào ngũ và Heng Samrin được phong chức chủ tịch mặt trận. Rồi hằng ngày tiếng nói của những người Miên chống đối được phát thanh, đồng thời VC dùng máy bay rải truyền đơn chống Polpot, được rải khắp lãnh thổ Cambốt. Song song, lá cờ củ của Khmer Issarak năm 1950, với hình năm ngôi tháp vàng trên nền đỏ, được xài lại. Bộ chỉ huy tiền phương của VN đóng bên cạnh quân Miên, chuẩn bị tấn công quân Khmer đỏ của Polpot.
Ðể tiêu diệt Khmer đỏ qua thời gian kỷ lục, đặt dư luận thế giới trước sự đã rồi. Do trên Hà Nội đã mở cuộc hành quân thần tốc, sử dụng trên 200.000 quân sĩ của ba trong bốn quân đoàn chính quy và một lực lượng yểm trợ hải-không quân, hỏa tiễn và thiết giáp. Lê Dức Thọ vào thay Lê Trọng Tấn, giám sát chiến dịch, còn Lê Ðức Anh làm tổng tư lệnh chiến trường. Sư đoàn 2 và Trung đoàn chủ lực Tây Ninh khai pháo trước một ngày, khi Chu Huy Mậu tổng cục trưởng TCCT bắn phát súng lệnh mở màn chính thức cuộc tấn công Cam Bốt vào lúc 12 giờ khuya đêm giáng sinh 1978 tại Ban Mê Thuộc.
Theo kế hoạch, quân VN vượt biên giới tấn công Kampuchia bằng nhiều hướng, Ở phía bắc, quân khu V + quân đoàn 3 Tây Nguyên (gồm SD10,320,31), do Kim Tuấn chỉ huy, đánh chiếm tỉnh Stung Treng và toàn vùng đông bắc giáp với Lào. Cánh quân thứ hai của quân khu VII (gồm SD 303,302,5) +quân đoàn 3 với Lữ đoàn 12 thiết giáp, các trung đoàn tỉnh Tây Ninh, Sông Bé, Long An.. từ hướng bắc Tây Ninh, Ql 7 và 13 tấn công chiếm Kompong Chàm và Kratié. Hướng tấn công chính cũng phát xuất tại Tây Ninh, do quân đoàn 4 phu trách (SD 2,7,9,341) + lữ đoàn 22 thiết giáp, lữ đoàn 24 pháo binh và lữ đoàn 25 công binh. Quân khu IX có quân đoàn 2 hay Binh đoàn Hương Giang tăng cường, tấn công từ An Giang, Hà Tiên. Tóm lại, ngoại trừ SD 306 được giữ lại để phòng thủ Lào, các SD 304, 325 cũng được điều động về nước tăng cường.
Cuộc chiến xảy ra thật đẫm máu và ác liệt, cộng thêm không quân và pháo binh ào ạt giội bom nã đạn, đánh bật 30.000 quân Khmer đỏ và nhiều cố vấn Trung Cộng, phải bỏ các tỉnh dọc biên giới Miên-Việt, tháo chạy về Nam Vang. Tại đây, bộ đội VC chiếm được nhiều quân dụng mới chưa sử dụng do Tàu viện trợ cho Cam Bốt như phi cơ, trong pháo.. Tuy nhiên VN cũng bị thiệt hại nặng, trên đường tiến quân về thủ dô, vì phục kích, mìn bay tại Fishhock, Kompong Cham và bến phà NeakLuong. Ðặc công VC cũng lén đột nhập vào Hoàng cung để giải thoát cho cựu hoàng Sihanouk nhưng Polpot đã cho di chuyển đượng sự tới Sisophon, nằm sát biên giới Miên-Thái.
Tính đến ngày 4-1-1979, VN làm chủ hoàn toàn các tỉnh miền đông của Cam Bốt. Ngày 6-1-1979, 7 SD của VN + 3 lữ đoàn Miên của Heng Samrin, qua phà trên sông Cửu Long, đồng loạt tấn công Phnom Penh. Thủ đô thất thủ sau một ngày kích chiến. Polpot cùng toàn bộ Khmer đỏ bỏ chạy tới tận TaSanh, sát biên giới Miên-Thái, để tiếp tục chống VC.
Tóm lại ngày 8-1-1979, đồng bào Cam Bốt coi như được giải thoát khỏi bàn tay sát nhân của Polpot và Khmer đỏ. Một Hội đồng cách mạng Kampuchia gồm 8 ủy viên được thành lập, do Heng Samrin làm chủ tịch. Ngày 14-1-1979, Ðặng Tiểu Bình, Hàn Niệm Long và nhiều uỷ viên cao cấp, trong Bộ Chính trị Trung Cộng, tới Thái Lan, tiếp xúc mật với thủ tướng Kriang Sok tại căn cứ Utapao. Sau đó, Thái cho Polpot và Khmer đỏ dung thân trên biên giới của hai nước. Qua sự yểm trợ và cưu mang hết mình của Tàu Cộng, Polpot lại tiếp tục đánh du kích với VC khắp nước Miên, cho tới đầu thập niên 90, qua áp lực của thế giới, cũng như sự sụp đổ của Liên Xô-Ðông Âu, VC mới chịu rút quân về nước, chấm dứt chiến tranh nhưng thù hận giữa hai đảng cọng sản anh em tới nay, vẫn ầm ỹ, dù ngoài mặt Hun Sen luôn bợ Hà Nội.
3 - TÀU ÐỎ XÂM LĂNG VN :
Ai cũng biết quan hệ giữa hai đảng cong sản Việt-Trung, vô cùng gắn bó từ sau năm 1949 khi Mao Trạch Ðông chiếm được toàn cõi Hoa Lục. Từ đó, Trung Cộng hết lòng giúp đỡ VC mọi mặt, từ quân sự cho tới kinh tế, chính trị, ngoại giao. Nhờ vậy Hồ Chí Minh và đảng cọng sản mới chiếm được miền bắc vào năm 1954.
Trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1960-1975), hầu như nguồn viện trợ quân sự, kinh tế cho Bắc Việt xâm lăng VNCH, đều của Trung Cộng. Trên đất Bắc, Tàu giúp Hà Nội xây dựng nhiều công trình nhà máy, đường xá.. Theo tài liệu công bố, tính tới năm 1978, Tàu đã viện trợ cho VC hơn 20 tỷ mỷ kim. Từ năm 1965-1970, theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, đã có hơn 100.000 quân Trung Cộng sang giup1 Bắc Việt, để xây dựng và phòng thủ. Ðã có cả ngàn lính Tàu chết ở VN trong cuộc chiến
Sau 1970, nhiều biến chuyển lịch sử đã xảy ra, nhất là khi HCM chết, làm cho Hà Nội càng ngày càng ngả theo LX. Do nhu cầu cuộc chiến, VC cần có nhiều quân dụng tối tân như Mig21, tăng 54,55, hoả tiễn Sam.. để đối đầu với vũ khí Mỹ. Nhưng những thứ này chỉ có Nga mới có. Trung Cộng biết hết, nhưng vẫn tiếp tục giúp đỡ VC cho tới khi Hà Nội chiếm được miền Nam.
Rồi vì đầu óc thiển cận, các chóp bu trong Bắc Bộ Phủ tự coi như các đỉnh cao của loài người, coi thường mạng sống đồng bào cả nước, lại mù quáng chạy theo chủ thuyết cọng sản đã lỗi thời và nhất là tôn sùng Liên Xô hơn thần thánh. Từ đó, không cần cảnh giác về những kẻ thù xung quanh, lại mù quáng trở mặt và thách đó Trung Cộng. Ðó là nguyên nhân chính khiến kẻ thù có cớ xâm lăng VN vào năm 1979.
Tại miền Nam, ngày 24-3-1978 bắt đầu đánh tư bản. Hằng ngàn công an, bộ đội và nam nữ thanh niên xung phong đeo băng đỏ trên tay, rải khắp các đường phố Sài Gòn-Chợ Lớn, Gia Ðình, xông vào các hãng xường, nhà buôn, tư gia.. những người có máu mặt Hoa lẫn Việt, để lục lọi, vơ vết, xoi khám tịch thu tiền bạc, đô la, vàng ngọc, hàng hóa và tất cả tài sản riêng tư của dân chúng, những ai bị đảng kết tội là mại sản. Theo tài liệu được bật mí, chỉ riêng mẻ lưới trên, Hà Nội đã vơ vét của người giàu Sài Gòn, hơ
Ngày 3-5-1978, cả nước lại được đổi tiền lần thứ ba, khiến đồng bào trước sau trở thành vô sản chuyên chính. Ở miền bắc, hằng ngàn Hoa Kiều bị trục xuất về nước. Trong nam, hằng vạn người Hoa trắng tay, tiêu tan sản nghiệp, bì đầy ải lên vùng kinh tế mới tận Bình-Phước Long, Bình Tuy, Long Khánh, Bà Rịa.
Ðể trả đũa, Trung Cộng ngưng hẳn 72 công trình xây dựng viện trợ cho VN. Ðã có 70.000 người Hoa tại VN hồi hương về Hoa Lục. Ngày 16-5-1978, Trung Cộng tuyên bố gửi hai chiến hạm tới Hải Phòng và Sài Gòn, để đón hết Hoa kiều. Nhưng đây chỉ là đòn tuyên truyền chính trị, vì tàu chiến chỉ đậu ngoài khơi một ngày, rồi kéo neo về nước. Nắm được yếu điểm của đàn anh, VC lần chót hốt hết những gì còn sót lại của Hoa Kiều, qua chiến dịch ‘ xuất cảng người ‘.Sau đó tống khứ họ ra khơi, khiến cho hơn triệu người bị chết vì sóng gió và hải tặc Thái Lan trên biển Ðông, mà những trang Việt sử cận đại, gọi là cơn hồng thủy của thế kỷ.
Sau khi VN bỏ lỡ cơ hội nối lại bang gioa với Hoa Kỳ. Ngày 24-5-1978, phụ tá an ninh của tổng thống Mỹ Carter là Brezinski, tới Bắc Kinh ký một hiệp ước liên minh quân sự với Tàu. Từ đó Ðặng Tiểu Bình đã có chỗ dựa chống Nga, nên mới ra mặt quyết tâm xâm lăng VN để rửa thù phục hận.
Từ 28 tới 30-1-1979, Carter và Ðặng Tiểu Bình đã họp mật tại Tòa Bạch Ốc. Sau đó tổng thống Mỹ đồng ý để Trung Cộng trừng phạt VN và còn giúp cầm chân Nga, bằng cách chịu ký với LX hiệp ứơc SALT II. Ðể thêm kế nghi binh, Hoa Kỳ cử bộ trưởng tài chánh là Blumenthal tới công tác tại Bắc Kinh. Ngoài ra còn cho Hàng không mẫu hạm Constellation lảng vảng ngoài khơi vịnh Bắc Việt. Tất cả mơ mơ màng màng, khiến cho LX cũng không biết đâu mà mò.
Ngày thứ bảy 17-2-1979, lúc 3 giờ 30 sáng, khi vạn vật, chim chóc và con người đang chuẩn bị cho một ngày sống mới, thì 600.000 quân Tàu, tiền pháo hậu xung, ào ạt mở cuộc xâm lăng đại quy mô vào VN, trên vùng biên giới từ Lai Châu tới Móng Cáy. Thế là tình nghĩa vô sản quốc tế trong sáng giữa hai nước, đã trở thành hận thù thiên cổ. Những địa danh Cao Bằng, Lạng Sơn, Ðồng Khê, Thất Khê.. lại đi vào những trang Việt sử đẫm máu, của VN chống xâm lăng Tàu.
Ðể tấn công VN, Trung Cộng đã huy động nhiều quân đoàn từ nhiều quân khu khác nhau, gồm QD 13,14 tấn công Lai Châu-Lào Kay. Hai QÐ 41,42 tân công Cao Bằng. Riêng mạn Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Ninh thi giao cho quân đoàn 43,54,55. Tất cả do Hứa Thế Hữu và Dương Ðắc Chí chỉ huy trong mấy ngày đầu.
Về phía VN, một phần vì sự tự cao bách thắng của các đỉnh cao tại bắc bộ phủ. Phần khác do quá tin tưởng sự liên minh quân sự với LX. Nên gần như sử dụng gần hết các đơn vị chính quy tại mặt trận Kampuchia. Bởi vậy ngay khi cuộc chiến bắt đầu, trong lúc quân Trung Cộng đông đảo lên tới 150.000 chính quy, thì việc phòng thủ miền bắc, nhất là thủ đô Hà Nội, được giao cho các Sư Ðoàn 308,312,390 của quân khu I. Nói chung, trong cuộc chiến đấu với Trung Cộng tại biến giới, chỉ có các sư đoàn chủ lực của quân khu tham dự như Sư đoàn 3,327, 337, Tây Sơn ( mặt trận Lạng Sơn). SD 567, B46, SD.Pháo binh 66 (mặt trận Cao Bằng). Các tuyến từ Hà Giang tới Lai Châu, do các SD316,345, Ðoàn B68, M63, các trung đoàn chủ lực tỉnh, huyện đội, công an biên phòng. Sau đó khi thấy tình hình quá nguy ngập, Hà Nội mới gấp rút điều động các trung đoàn từ các tỉnh trung châu, cùng với các sư đoàn chủ lực của quân khu II và IV từ Kampuchia về tiếp viện.
Cuộc chiến thật đẫm máu ngay từ giờ phút đầu. Quân Tàu dùng chiến thuật cổ điển thí quân với tiền pháo hậu xung, bằng các loại hỏa tiễn 122 ly và đại bác nòng dài 130 ly, với nhịp độ tác xạ 1 giây, 1 trái đạn. Sau đó Hồng quân tràn qua biên giới như nước lũ từ trên cao đổ xuống. Tuy nhiên khắp nơi, Trung Cộng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của VN, một phần nhờ địa thế phòng thủ hiểm trở, phần khác là sự yểm trợ hùng hậu của pháo binh các loại, gây cho giặc Tàu nhiều tổn thất về nhân mạng tại Lạng Sơn và Cao Bằng.
Sự thất bại trong những ngày đầu, khiến Ðặng giao chỉ huy mặt trận cho Dương Ðắc Chí, đồng thời cũng thay đổi chiến thuật, dùng tăng pháo mở đường và bộ binh tùng thiết. Do quân Tàu quá đông, nên sau 10 ngày cầm cự, bốn thị xã Lai Châu, Lào Kay, Hà Giang, Cao Bằng lần lượt bị thất thủ. Riêng tại thị xã Lạng Sơn, Trung Cộng tung vào chiến trường tới sáu sư đoàn chính quy 127,129, 160,161, 163,164 cùng hằng trăm thiết giáp và đại pháo từ khắp nới bắn vào yểm trợ. Phía VN có quân đoàn 14 gồm các SD 3, 327, 338, 347, 337 và 308. Trong lúc đó hai SD chính quy 304 và 325 từ Kampuchia, cũng đựợc không vận và di chuyển bằng xe lửa, tới Lạng Sơn tiếp viện. Nhưng cuối cùng Lạng Sơn cũng bị thất thủ đêm 4-3-1979. Sau đó giặc Tàu dùng mìn, bom phá nát hết các thành phố, thị xã tạm chiếm, kể cả hang Pắc Pó, suối Lê Nin và núi Các-Mác mà Hồ Chí Minh từng tạm trú, trước khi về Hà Nội cướp chính quyền vào tháng 9-1945. Ngày 16-3-1979, Ðặng Tiểu Bình ra lệnh rút quân về nước.
Tóm lại sau 16 ngày giao tranh đẫm máu, Trung Cộng cũng như Khmer đỏ, tàn phá tất cả tài sản của dân chúng, bắn giết tận tuyệt người VN, san bằng các tỉnh biên giới, mà suốt cuộc chến Ðông Dương lần II (1960-1975), gọi là vùng an toàn. Ðã có hằng trăm ngàn vừa dân vừa lính của cả hai phía thương vong.
Cuộc chiến tưởng đâu đã chấm dứt, vì VC dấu nhẹm tin tức, từ ấy cho đến năm 2006, nhờ mạng lưới Internet của Bộ Quốc Phòng Trung Cộng (Defense-China.com) và tác phẩm Dữ kiện bí mật của cuộc chiến tranh Trung-Việt (SEcret Records of Sino-Vietnamese War) của Jin Hui, Zhang Hui Sheng và Zhang WEi Ming, cả thế giới biết được “Bí Mật Lịch Sử về việc Tàu chiếm Núi Ðất của VN, trong cuộc chiến biên giới lần hai (1984-1989)”. Theo tài liệu dẫn chứng, năm 1984 Trung Cộng lại vin cớ CSVN thường pháo kích và tấn công biên giới, nên bất thần tấn công cưởng chiếm Núi Ðất của VN tại tỉnh Hà Giang (Thượng Du Bắc Phần), mở màn cho cuộc chiến Biên Giới Việt Hoa lần thứ hai, kéo dài từ năm 1984-1989 mới chấm dứt, do Việt Cộng tự bỏ đất rút quân, nhượng bán (?) lãnh thổ cho giặc Tàu.
Núi Ðất (VN) hay Lão Sơn (Tàu), dù có gọi bằng cái tên gì chăng nữa, cũng vẫn là một ngọn núi của VN, tại xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. Trong trận chiến đẳm máu này, hai bên đã dành giựt quyền kiểm soát cứ điểm 1509m, được coi như là một vị trí chiến lược rất quan trọng về phía VN, được cũng cố xây dựng từ sau cuộc chiến biên gới 1979.
Thế là ngày 28-4-1984, vào lúc 5 giờ 50 sáng, Trung đoàn 118, Sư đoàn 40 BB, thuộc Quân đoàn 14, Quân khu Côn Minh, tiền pháo hậu xung, đồng loạt tấn công đỉnh 1509 và các cứ điểm quan trọng khác của VN. Cuộc chiến thật gay go vì gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân phòng ngự VN, cấp đại đội. Tất cả đã tử chiến trước quân thù, đặc biệt trong số này có 4 nữ cán binh CSVN, thà chịu chết trước súng phun lửa của giặc Tàu, chứ không đầu hàng. Vì vậy nên trận chién kéo dài tới 15 giờ 30 chiều mới kết thúc, giặc bỏ xác tại chỗ 198 tên, cùng một số khác bị thương nặng..
Ngày 11-6-1984, một Tiểu đoàn CSVN tấn công tái chiếm núi nhưng bị đẩy lui. Ngày 12-7-1984, hai bên đụng độ lớn cấp Sừ đoàn. Phía CSVN đã huy động tới 6 Trung đoàn Bộ binh của các SÐ312, 313, 316 và 356 để tái chiếm đỉnh núi. Cuối cùng Trung đoàn 982 thuộc Sư đoàn 313 CSVN, đã tái chiếm được cứ điểm 1509, sau khi đã chịu tổn thất hơn 3,700 người. Nhưng sau đó không biết vì lý do gì, chóp bu Hà Nội đã ra lệnh bỏ ngõ cứ điểm trên cho quân Trung Cộng tới tái chiếm. Rồi lại giành giật từ 1984-1987 ở cấp Ðại đội, cho tới ngày 13-2-1991 thì châm dứt với kết quả : Trung Cộng hoàn toàn chiếm lĩnh Núi Ðất nằm trong lãnh thổ VN tại Tỉnh Hà Giang, và đổi lại tên Tàu là Lão Sơn.
Lịch sử lại tái diển, ngày 14-3-1988, Trung Cộng lại nổ súng vào Hải quân VN tại quần đảo Trường Sa. Trong cuộc hải chiến ngắn ngủi này, vì quân trú phòng nhận được lệnh của đảng “không được đánh Tàu” nên chỉ phản ứng có lệ. Kết quả phía Trung Cộng, không có ai bị tử thương cũng như tàu chìm. Ngược lại, bên VN có nhiều tàu chiến bị chìm, gồm : Chiến Hạm Thượng Hải của Tàu viện trợ, 1 Tuần Dương Hạm củ của VNCH để lại, 1 Hải Vận Hạm của Nga Sô viện trợ và trên 300 lính Hải quân bị thương vong oan uổng.
Chỉ riêng năm 1999 và 2000, bọn chóp bu đảng gồm Ðổ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh, Trần Ðức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Minh Triết và nhất là Nguyễn Tấn Dũng cùng toàn lũ trong Chính trị Bộ, đã lén lút, ký kết 2 Hiệp Ước bất bình thường, vô lý, phản bội dân tộc, trong sự Bán Ðất Biên giới và Bán Vịnh Bắc Phần, cho giặc Tàu
Tính ra, từ ngày Hồ Chí Minh và Ðảng CSQT chiếm được nữa nước VN, qua Hội Nghị Genève 1954, sau đó cưởng chiếm Miền Nam ngày 30-4-1975 và cai trị cả nước tới 2007, chỉ hơn nữa thế kỷ (1955-2009), đã bán cho nhượng Tàu hai quần Ðảo Hoàng Sa-Trường Sa, nhiều đất đai tai biên giới Hoa Việt, trong đó có Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Hang Pắc Pó, Núi Ðất, bải Tục Lãm và nhiều vùng đánh cá thuộc lãnh hải của VN. Tất cả hành động bán nước trên đều mờ ám, bịp lừa, mục đích cũng chỉ để che dấu mọi tội lỗi, hầu tiếp tục kéo dài sự thống trị của tập đoàn thực dân đỏ tham nhũng, bất tài nhưng trong tay nắm đủ quyền lực, tiền bạc và trên hết đã sai khiến được một thiểu số trí thức khoa bảng mù quáng hám danh, đang cố sức quậy bùn công cuộc chiến đấu quang phục đất nước của Người Việt Tị Nạn Hải Ngoại và Ðồng bào quốc nội.
Tóm lại, sau khi cưởng chiếm đuợc cả nước VN, CSQT bỏ Tàu theo Nga, gây nên một cuộc chiến long trời lở đất với Miên và Trung Cộng. Bài học của lịch sử chưa khô máu trên thân thể mẹ VN nhược tiểu, thì một cuộc chiến đẳm máu khác đã thấy ló dạng, mà bất cứ ai cũng thấy rõ hành động của Ðảng CSVN, từ đầu năm 2009 tới nay qua cái gọi là chủ trương lớn của đảng “rước giặc Tàu vào dầy mã Tổ Hồng Lạc bằng trò hề KHAI THÁC BAUXIT” tại Cao Nguyên.
Lần này là cuộc chiến sinh tử giữa toàn dân VN trong và ngoài nước, với sự tham gia của mọi thành phần xã hội, tuổi tác, trí thức cũng như người bình dân. Tất cả đều đã đứng lên, quyết tâm tiêu diệt cái chế độ độc tài đảng trị “bán nước hại dân”, để toàn dân tự mình chống lại và đánh đuổi giặc Tàu ra khỏi bờ cỏi VN, dành lại đất đai biển đảo mà VC đã bán cho kẻ thù suốt thời giam cầm quyền.
VN không bao giờ sợ Tàu phù từ ngàn năm về trước, vì thời đó không có những tên việt gian bán nước, không có những kẻ đôi lốt tu hành buôn Phật bán Trời, không có những tên gian thương bất nghĩa vô loại làm gián điệp cho giặc và trên hết là sự “Ðồng Tâm Quyết Chiến” của Quân-Dân cả nước trong sứ mệnh chống lại xâm lăng, mà điển hình là “Hội Nghị Diên Hồng” Ðời Nhà Trần mãi mãi lưu danh thiên cổ.
VN ngày nay cũng vậy, trong nước gần hết đồng bào đã đứng dậy chống ngụy quyền qua đủ mọi hình thức, bất chấp sinh mệnh, tù đầy. Cao cả hơn hết là sự dấn thân của thành phần trí thức và giới trẻ. Ở Hải ngoại, có thể nói được là hàng hàng lớp lớp người Việt tị nạn CS nay cũng đã đứng dậy “chống giặc cưứ nước”. Chúng ta cả nước đã quyết tâm chung lòng “Hy Sinh Vì Ðại Nghĩa Dân Tộc “ chẳng lẽ đứng yên nhìn đất Việt, Dân Việt dần mòn trở thành Nô Lệ cho đế quốc Tàu đỏ hay sao ? .
Hết đường chối cãi rồi nheTừ đây chấm dứt lè nhè ‘ bác - con ‘Dù cho sông cạn núi mònHồ-Ðồng bán nước vẫn còn trơ trơGây nên máu chảy đôi bờ ?Ðánh Tây chống Mỹ đâu ngờ Việt gianCả bè cỏng giặc Tàu sangDâng đất bán đảo trăm ngàn hận đauChỉ lo hãm hại đồng bàoGiết người cướp của để mau làm giàuNay lại im hết được sao ?Mười bốn tháng chín vết dao đoạn lìa
Ðem thân của Mẹ cắt chiaHoàng-Trường hai đảo bên rìa biển ÐôngGiang sơn gấm vóc Lạc HồngMáu xương của Việt chất chồng tạo nênBây giờ là lúc đứng lênToàn dân cả nước đáp đền núi sôngXóa tan vết nhục Hồ-ÐồngDựng lại huyền thoại con rồng cháu tiên
Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
MƯỜNG GIANG

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2009

VĂN TẾ ANH HÙNG TỬ SĨ QL/VNCH





Văn Tế Anh Hùng Tử Sĩ
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
( Nhân ngày Quốc Hận thứ 34)

30-4-2009

Ba mươi bốn năm qua!
Bao nhiêu nỗi xót xa…
Kể từ ngày
Việt Nam Cộng Hòa
bị bức tử!
Con xa cha, vợ xa chồng
Kẻ vượt biển, người băng đồng lánh nạn…

Than ôi!
Các anh hùng, tướng sĩ
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Dũng cảm hy sinh đền nợ nước
Vì không khiếp nhược đầu hàng…

Phải kể:
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam,
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú,
Thiếu Tướng Lê Văn Hưng,
Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ.
Chuẩn Tướng Trần Văn Hai,
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn
Trung Tá Nguyễn Văn Long...

Còn biết bao nhiêu sĩ quan hàng Tá, Úy
Hạ sĩ quan, Binh sĩ…
Không chịu đầu hàng
Ðã hiên ngang tuẫn tiết, hy sinh…

Nay nhớ lại
Các chiến công oanh liệt
của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Từ vĩ tuyến 17
Xuống tận mũi Cà Mau
Ôi làm sao kể xiết!
Ðồng Xoài, Bình Giả,
An Lộc, Khe Sanh,
Mùa Hè Ðỏ Lửa…

Các Binh Chủng kiêu hùng
Tung hoành trên 4 vùng Chiến Thuật
Những Cọp Biển Mũ Xanh,
Những Cánh Dù Mũ Ðỏ,
Những Cọp Ba Ðầu Rằng Mũ Nâu,
Những xe bọc thép Mũ Ðen,
Nữ Quân Nhân,
Cảbh Sát Quốốc Gia
Ðịa Phương Quân,
Nghĩa Quân,
Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn
Nhân Dân Tựự Vệ...

Rồi trại tập trung tù đày
từ Bắc chí Nam
giam giữ cực hình
biết bao chiến sĩ đã hy sinh
dưới nhiều hình thức:
vượt trại, chống đối, ốm đau…

Hôm nay, 34 năm sau
Nhớ ngày Quốc Hận tháng Tư
Thắp nén hương thơm tưởng niệm
Các Anh Hùng vị quốc vong thân
Các Quân Cán Chính dũng liệt
Xin hồn thiêng về đây chứng giám
Gương tuẫn quốc đời đời ghi nhớ
Sự hy sinh sáng mãi thiên thu.

Trước bàn thờ Tổ Quốc
Trước Hồn Thiêng Sông Núi
Xin anh linh về chứng giám lòng thành
của anh em cựu chiến sĩ cùng đồng bào
Tỏ lòng kính mến, biết ơn
Các Anh hùng, Liệt sĩ…
Cung Duy Thượng Hưởng

Vĩnh Liêm cẩn bạch
Thuận Lâm-Viên kính tạ
(Eden Center, 24-04-2009)

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2009

ĐƠN TỐ CÁO


Độc tài xã hội chủ nghĩa diệt dân
Đập dập- tự do- hạnh phúc


Đơn tố cáo
Kính gửi:
-Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF),
- Human Rights Watch
-Uỷ Ban Bảo Vệ Ký giả(Committee to Protect Journalists )
-Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International),
-Chi hội PEN ở Luân đôn Anh quốc.

(Trần Khải Thanh Thuỷ( áo đen) và Lý thị Tuyết Mai( vợ thầy giáo Vũ Hùng) trong cuộc gặp mặt đầu năm 2009. )

Tên tôi là Trần Khải Thanh Thuỷ, sinh năm 1960, cư trú tại số nhà 46 ngõ 178, phố chợ Khâm Thiên. Hà Nội. Nhà văn bất đồng chính kiến tại Việt Nam .
Với suy nghĩ: Thiên chức của văn nghệ sĩ phải là thư ký trung thành của thời đại, phải viết sự thực trên cơ sở cái xấu đã lồ lộ phơi bày. Vì vậy cả chục năm qua, tuy phải sống trong thể chế kìm kẹp, độc đảng, hết sức dã man, tàn bạo của nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tôi luôn hướng ngòi bút của mình vào những mảnh đời oan khiên bất hạnh, những tham nhũng dối lừa của lãnh đạo Việt Nam- vốn là những kẻ xuất thân từ đói, dốt rách,nên liên tục đưa lại những sai lầm chết người cho dân tộc Việt Nam, từ cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp ở Miền Bắc(1955) tư sản mại bản ở Miền Nam (1976) cưỡng chế Miền Nam(1975), đưa thanh niên trai tráng vào lò lửa chiến tranh, làm chết cả chục triệu người, trong đó có không biết bao nhiêu cô nhi, quả phụ, mẹ già cô độc, đói khổ, thương phế binh, nạn nhân tật nguyền v.v, Khi hoà bình lại đưa đất nước đi vào ngõ cụt của sự sống, trong cơ chế quan liêu bao cấp. Bóp nghẹt thương nghiệp, vốn là mạch máu lưu thông trong cơ thể xã hội, gây bao thảm trạng đau buồn, đói khổ, khiến trăm dân điêu đứng, nhà nhà lầm than...Chính vì thế tôi đã bị đảng tà quyền Việt Nam liên tục gây khó dễ, từ việc chặn bắt ngang đường, tịch thu toàn bộ sách vở tài liệu trong người đến việc giam giữ qua đêm, vì "tàng trữ tài liệu trái phép"(thực tế những tài liệu này rất phù hợp với xu hướng hội nhập toàn cầu). Hoặc tràn vào khám nhà, tịch thu phương tiện làm việc gồm máy điện toán, ổ USB, máy scan, máy ghi âm, điện thoại, đĩa CD hết lần này lần khác. Cuối cùng không làm cho tôi từ bỏ tư tưởng tiến bộ, đối lập với độc đảng, độc tài, họ đã bắt tôi vào tù ( ngày 21-4-2007) trong khi bị lao phổi nặng, ho ra máu, bị tiểu đường, không hề có chế độ chăm sóc thuốc men.
Đầu năm 2008 nhờ các tổ chức nhân quyền của người Việt ở Hải ngoại cũng như quốc tế can thiệp mà tôi được thả về, sau 9 tháng 10 ngày giam giữ.
Từ đó đến nay, tôi vẫn giữ vững quan điểm lập trường của mình, không bẻ cong ngòi bút, dù phải trả bằng bất cứ giá nào.
Thời gian gần đây, sau khi ra mắt hai tác phẩm ở Hải ngoại: "Hồ Chí Minh trăm tên nghìn mặt", và "nghĩ cùng thế sự", đánh thẳng vào mọi thói hư tật xấu của 15 gương mặt của bộ chính trị Việt Nam, cũng là lột bỏ huyền thoại Hồ Chí Minh (có vợ và con riêng, dâng công hàm bán đất cho Trung Quốc, đưa cố vấn Trung Quốc vào tàn sát đất nước qua vụ cải cách ruộng đất, đưa đất nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản, một mô hình không tưởng vừa dối lừa, độc ác, vừa đói nghèo, lạc hậu v.v) tôi đã bị nhà cầm quyền Việt Nam ra đòn trừng trị bằng cách thuê người liên tục đổ phân tươi vào cửa nhà trong đêm. Kể từ hôm 6-2 đến nay đã là 8 lần, làm ô nhiễm môi trường sống của gia đình tôi và hàng xóm đã đành, còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ của cả nhà, đặc biệt là hai cháu bé đang tuổi ăn tuổi ngủ
Thiết nghĩ tâm hồn trẻ thơ như giếng nước trong, như tờ giấy trắng, chỉvô tình thả bụi, bẩn vào đã là có lỗi với các cháu, đằng này, đảng cộng sản Việt Nam còn đang tâm thả cả phân tươi, xác chuột chết, dầu bẩn vào tâm hồn nhạy cảm và trí óc ngây thơ của các cháu, thử hỏi còn sự độc địa, dã man nào hơn?
Trong bối cảnh văn minh hội nhập, Việt Nam là thành viên của WTO, của hội đồng bảo an liên hiệp quốc, nhà lại ở giữa thủ đô, nơi được mệnh danh là đất nghìn năm văn hiến, lắng hồn núi sông ngàn năm v.v song hành xử vô cùng hèn hạ. Bên ngoài thì quy hàng Tàu cộng, dâng đất, bán biển, rước voi về giày mả tổ, tàn phá cơ thể mẹ Việt Nam( thông qua việc khai thác boxit). Bên trong thì đàn áp giáo dân, trừng phạt các nhà dân chủ, người bất đồng chính kiến, bóp chết từ trong trứng những tư tưởng đối đầu tự do dân chủ của họ. Nếu dùng mọi thủ đoạn đàn áp và khủng bố không được thì thuê các đối tượng xấu như nghiện hút, đầu gấu, can phạm đến đổ phân tươi và chất thải vào nhà. Như tôi là một ví dụ điển hình ( trước tôi là tổng thư ký đảng dân chủ đối lập Hoàng Minh Chính, đền Gêrôđa thuộc địa phận giáo xứ Thái Hà. Xin được nói có sách, mách có chứng như sau
Lần 1 ngày 6-2-2009

Lần 2 ngày 13-2-2009
Lần 3: 23/2-2009
Lần 4:ngày 3/3/2009
.Lần 5: 13-3-2009
Lần 6: 19-3- 2009
Xác chuột chết trương phình trộn trong dầu và phân tươi
Lần 7: 27-3-2009
Lần 8 3-4-2009
Đặc biệt hai lần 5 và 6, chúng còn dùng khoá, khoá ngoài để gia đình tôi không thể ra được, phải mở cửa tum lên tầng thượng, bám tường nhảy xuống cưa khoá, hoặc gọi điện thoại nhờ em trai sang phá khoá giúp.
Sở dĩ tôi khẳng định đây là chỉ đạo của chính quyền phường Trung Phụng nơi tôi ở, đặc biệt là công an phường, vì ngay hôm xảy ra sự việc, tôi đã lên đồn báo cáo, yêu cầu can thiệp, song tính đến giờ phút này là một tháng 27 ngày trôi qua, kẻ này vẫn liên tục tống chất bẩn gồm phân tươi, dầu nhớt trộn phân và chuột chết trương phềnh vào nhà tôi, như giữa chốn không người, mà chính quyền không hề có ý kiến gì.
Lần thứ 6, khi chồng tôi xuống nhà phát hiện ra, đạp cửa để đuổi theo thì cửa đã bị khoá, dây điện phía ngoài bị giật tung, trong khi đó đèn bếp và cầu thang nhà tôi còn sáng, 4cháu hàng xóm chưa kịp đi làm về ( hơn 12 giờ đêm).
Lần gần đây nhất (27-3-2009), bản thân tôi bị canh ở hai đầu ngõ 178 và 154, vì phiên toà xử 8 bà con giáo xứ Thái Hà, song lúc 1 giờ 30' kẻ gian vẫn đến gần cửa nhà tôi để dùng xích sắt khoá cửa( vì móc cửa phía ngoài đã phải cưa và mài nhẵn), khi chồng tôi giật cửa kính ra, tên này mới bỏ chạy, song khi bị chủ nhà cũ( người bán lại nhà cho tôi) thắc mắc thì chính quyền phường trả lời: "Sợ chị ấy ra ngoài dự phiên toà xử án nên chỉ định xích cửa rồi khoá lại thôi, chứ không có ý đồ gì đâu?"
Thực tế đến 3 giờ 30 phút sáng, trong khi chồng tôi còn thức, ngồi canh ở phía trong thì kẻ này đứng phía dưới bậc thềm, cách xa nhà tôi khoảng gần một mét để hất thẳng phân trộn dầu nhớt vào cửa .
Chồng tôi tức giận lao ra thì thấy tên này chạy về ngõ 154, trước mặt 4 người gồm cán bộ an ninh, bảo vệ, dân phòng đang ngồi, coi như không có chuyện gì xảy ra. Quá bực bội, chồng tôi khẳng định họ là những kẻ bao che đồng loã với tội phạm, thấy kẻ xấu mà không bắt thì họ nói tránh "Tôi ngủ gật, không biết gì". Người lại bảo : "Vừa mới thay ca nên không biết", riêng cán bộ an ninh thì trả lời:" Ngồi chơi" liên quan đéo gì đến tôi" ...Sau đó, khi tôi tuyên bố sẽ đưa hình ảnh và những lời nói bẩn thỉu của tên cán bộ canh đêm này lên mạng toàn cầu thì hắn chửi và doạ sẽ đập nát máy ảnh.
Ngay khi tôi quay về nhà, chính tên này chỉ đạo cho đồng bọn 5 lần ném gạch vào cửa nhà tôi, tạo thành những tiếng động vô cùng lớn.
Lần cuối, chồng tôi ngồi canh từ 12 giờ đêm đến 2 giờ sáng thấy " bàng quang giờ đã đầy phè", liền đi vào toalet, vừa sập cửa phòng vệ sinh đã nghe tiếng "vèo" bên ngoài khung cửa, chạy vội ra thì kẻ này đã cao chạy xa bay , trên lối đi còn chiếc hộp đựng phân trộn dầu và a xít vứt lăn lóc, hộp phân được hắt từ phía bên trái, cách cửa khoảng 50 cm.
Trước đó hôm 31-3- 2009, tôi ra khỏi nhà và ngạc nhiên khi thấy hai công an phường ngồi ngay ở hàng nước cạnh ngõ 178, dù đi qua đi lại nhiều lần, nào ăn sáng, rồi đi chợ mua hàng, hay đi lấy thuốc tôi đều nhận biết rõ là họ theo dõi mình, nhưng đã qúa quen với những việc làm trơ tráo, mất lịch sự của công an, nên tôi bỏ qua
Hôm sau, sáng 1-4-2009, sự việc trên lại xảy ra, ngay trong ngõ, luôn có hai người rình mò theo dõi tôi , khi tôi từ mẹ đẻ về thì không sao mở được cửa. Kẻ gian đã được sự bảo kê của hai tên này( 1 công an, một bảo vệ) để bịt lỗ khoá, tôi vội gọi điện thoại cho chồng tôi về, dùng máy cắt cắt thanh ngang và cắt 3 chốt cửa, mất hơn 4 tiếng đồng hồ mới vào tháo được cánh cửa ra để vào nhà. Hôm sau lại phải thuê người vào hàn lại cửa vô cùng nguy hiểm và tốn kém. Lúc này gia đình tôi mới biết công an đã bí mật cử người theo dõi để hễ tôi ra khỏi nhà là điều động hàng xóm đi chỗ khác, đồng thời sai người vào nhét kim loại và xịt keo con voi 502 vào lỗ khoá, nhằm gây khó khăn và triệt hại gia đình tôi cả về tinh thần lẫn vật chất.

Khắc phục sự cố( từ 10 giờ đến 2 giờ chiều ngày 1-4-2009)

Cả 9 lần, trừ lần đầu người của cơ quan an ninh là ông Trần văn Quá tìm vào, ghi nhận sự việc, còn các lần sau trở đi dù nhà tôi có ra tận đồn phường trình báo, làm đơn trình bày sự việc rồi gọi điện thoại cho cảnh sat cơ động 113 cũng không ai vào.
Điều này chứng tỏ chính quyền đã bảo kê cho kẻ xấu hành động theo sự chỉ đạo của công an phường, nhằm trừng trị tôi về tội đã cả gan in hai cuốn sách tại Hải ngoại mà không được phép của nhà cầm quyền. Đồng thời dằn mặt để tôi sợ , không dám cất cao tiếng nói trung thực trong việc viết bài nữa, cũng là để gia đình tôi thấy kinh hãi khiếp sợ, bẩn tưởi, ô uế mà phải bán nhà hoặc bỏ nhà đến ở chỗ khác, để công an không phải chịu trách nhiệm về một người bị coi là hoạt động chính trị nguy hiểm như tôi
Thưa bà Prisca Orsonneau!
Tình trạng của tôi đến giờ phút này là không thể nào chịu đựng nổi nữa, bản thân tôi đêm nào cũng mất ngủ vì nơm nớp lo sợ cho sự an nguy của ngôi nhà cũng như tính mạng mình. Chồng tôi - giáo viên trường tiểu học Kim Đồng, ban ngày đi dạy, ban đêm thức để rình bắt thủ phạm nên ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ . Hai con tôi cũng thấp thỏm lo âu vì tình trạng ô uế này.
Vậy tôi làm đơn này kính gửi các tổ chức RSF, Human Rights Watch ; Committee to Protect Journalists ; Amnesty International, PEN club v.v để kịp thời lên tiếng giúp tôi tố cáo tội ác man rợ, đốn mạt của nhà cầm quyền Việt Nam, và có biện pháp hỗ trợ tôi trong thời điểm đầy hãi hùng, kinh khiếp này dưới thế lực đen tối, thối nát của đảng cộng sản Việt Nam
Bằng tất cả niềm yêu quý tin cậy vào tấm lòng hào hiệp, công bằng, chính trực của bà, Tôi xin chân thành cảm ơn.
Trần Khải Thanh Thuỷ
Hội viên hội văn bút Việt Nam tại Hải Ngoại (Mỹ)
Hội viên danh dự hội văn bút quốc tế (Trung tâm Anh Quốc)





.

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2009

TÌNH HÌNH KHẨN CẤP SOS

Tình hình khẩn cấp SOS:
Bùi Tín
Ai du nhập hiểm nguy ?
Làm gì để cứu nguy đất nước ?
Hiểm họa bôxít là có thật.
Hiểm họa bôxít là cực kỳ nghiêm trọng
.

Các trí thức hàng đầu của đất nước ta đã cất lên, khẩn cấp và nghiêm khắc, lời cảnh báo đầy sức thuyết phục.
Mời đồng bào đọc kỹ lại những bài của tiến sỹ Nguyễn Thành Sơn, nhà văn Nguyên Ngọc, nhà báo Phạm Đình Trọng, nhà nghiên cứu Nguyễn Trung, các tướng Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Trọng Vĩnh...
Những tài liệu quốc tế cũng xác minh thêm những hiểm hoạ diệt môi trường và diệt mạng sống con người của chất độc bôxít.
Hôm nay, nữ chuyên gia về môi trường của Liên Hợp Quốc Nguyễn Thùy Trang hiện công tác ở châu Phi góp thêm tiếng nói cảnh báo sâu sắc về nguy cơ của "bụi đỏ" và "bùn đỏ" đối với mạng sống con người. Ở châu Phi, "bùn đỏ" bôxít gây nên dị tật cho thai nhi động vật uống phải nước ô nhiễm; ở châu Úc, "bụi đỏ " bôxít gây ung thư phổi, viêm mũi, biến dạng cổ tử cung cho động vật thí nghiệm. Trên con người, "bụi và bùn đỏ" gây nên khó thở, chóng mặt, buồn nôn, sau đó đau ngực, có thể bị xỉu bất cứ lúc nào. Bụi đỏ nhẹ tung bay mọi nơi, bùn đỏ ngấm vào mọi nguồn nước, gây ô nhiễm sông, hồ, giếng ở những vùng rộng lớn. Rau nhiễm bụi đỏ chứa chất độc. Nước mưa cũng nhiễm bụi độc trong không khí.
Ai là người chủ trương khai thác bôxít ? Đó là 15 người trong bộ chính trị đảng CS, cụ thể là tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã đích thân hạ bút ký trong Tuyên bố chung Việt - Trung năm 2008, là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng coi chủ trương khai thác bôxít là "chủ trương lớn của nước ta", là bộ trưởng ngoại giao Phạm Gia Khiêm lén lút cho hàng chục ngàn công nhân Trung quốc vào nước ta, rải từ Lạng Sơn, Hải Phòng, Quảng Ninh, vào Lâm Đồng, Đak Nông, Bình Thuận cho đến tận Cà Mau. Mặc cho lao động ta thất nghiệp lên gần nửa triệu, họ đang có kế hoạch đưa 30 vạn lao động Trung quốc vào nước ta trong năm nay, bất kể việc này đang và sẽ gây nên những xáo trộn về kinh tế, tài chính, văn hoá - xã hội và an ninh phức tạp chưa lường hết.
Bộ chính trị độc đoán bỏ ngoài tai mọi cảnh báo, can ngăn; lo ngại trước yêu cầu mở một cuộc thảo luận khoa học rốt ráo; tảng lờ đòi hỏi tổ chức một cuộc hỏi ý dân; không dám tổ chức cho Mặt trận Tổ quốc phản biện. Họ lao vào hành động, cứ như đất nước này là của riêng họ, ngang nhiên khiêu khích công luận và nhân dân đông đảo.
Chưa bao giờ nhóm lãnh đạo toàn thể bộ chính trị phơi bày bản chất độc đoán, sùng ngoại, quay lưng lại với nhân dân, cúi đầu trước ngoại bang như hiện nay.
Họ coi mỗi ý muốn của Trung Nam Hải - Bắc kinh như ý Trời; coi yêu cầu của nhóm Hồ Cẩm Đào - Ôn Gia Bảo như nghiêm lệnh của cấp trên; họ tự đánh mất tư thế lãnh đạo khi tỏ ra không còn lòng tự trọng của quốc gia, không bảo vệ cuộc sống và quyền lợi của dân tộc này. Nhóm lãnh đạo đất nước, ngồi ở trên cao mà để cho những công dân Nguyễn Thành Sơn, Phạm Đình Trọng, Nguyên Ngọc, Nguyễn Trung, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Trọng Vĩnh (đã nghỉ hưu), cô Nguyễn Thuỳ Trang khuyên bảo lời hơn lẽ thiệt, dạy khôn ngoan và đạo đức, mà vẫn không chịu nghe ra, không chịu sáng mắt ra.
Vậy thì mọi công dân thật lòng yêu nước, thật lòng thương dân, chúng ta phải làm gì đây ?
Chúng ta không ở trong một nước dân chủ, không thể chờ một cuộc tổng tuyển cử mới để mời 15 vị ù lỳ tệ hại về nghỉ, tự chọn ra những nhân tài chân chính thật ra không hề thiếu. Việt nam vẫn còn là một trong 55 nước không có tự do trong gần 200 nước trên quả đất. Bế tắc, và nhục. Nước "đèn đỏ tự do", nên chuốc lấy "bụi đỏ" , "bùn đỏ" và mọi tai hoạ khác như tham nhũng, trì trệ hôm nay.
Không thể khoanh tay thúc thủ, để mặc cho hiểm hoạ lù lù đến cho nhân dân và đất nước.
Bạn biết không, bành trướng đang lấn mạnh khi thấy kẻ cầm quyền thúc thủ. Các công ty điện, ximăng, hoá chất, nhôm CHALCO, Nhất An/Quảng Tây giăng cờ xí khắp vùng Qủang Ninh, Hải Phòng, Tây Nguyên, Cà Mau rồi. Họ đi lại như nơi vô chủ. Đất nước lâm nguy !
Mọi sáng kiến xin tìm tòi và phát biểu khẩn cấp.
Từ Bắc chí Nam, từ đồng bằng lên Tây nguyên hãy xuất hiện khắp nơi khẩu hiệu : "KHÔNG với Bôxít" , " STOP ! Bôxít ! ",
" Ngưng lại !Bôxít! Ngưng lại! lao động nước ngoài ! "
" Hãy mở Hội thảo khoa học về bôxít đã !"
" Bụi đỏ, bùn đỏ bôxít là nguồn chết ! "
" Không phá chè, cafê, tiêu, cao su - nguồn sống xanh của Tây
Nguyên!"
Xin mời các giới, tổ chức, hội...cần và nên tham gia cuộc vận động khẩn cấp bảo vệ màu xanh Tây nguyên :
- Giới bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường, Bộ tài nguyên và môi trường ;
- Giởi y tế, bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ bà mẹ và trẻ em, Hội Chữ Thập Đỏ ;
- Giới luật học, luật sư, sinh viên luật:thực hiện luật Môi trưởng; - Các công đoàn, bảo vệ công nhân VN, phản đối đưa ồ ạt lao động nước ngoài vào;
- Các cựu binh sỹ từng tham gia các chiến dịch Tây nguyên và chiến trường Tây nguyên;
- Các hội đoàn công nghiệp và kỹ thuật, các nhà khoa học ;
- Các tổ chức du lịch, bạn của Đà lạt, Lâm Đồng, của Tây nguyên; - Giới báo chí, báo ngày, báo tuần, báo mạng, báo nói, các bloggers tự do, với những bài bình luận, nghiên cứu, thông tin, phóng sự, phỏng vấn, ảnh chụp nhanh, nhậy, kịp thời. Hơn 10 nghìn nhà báo, báo viết, báo nói, báo ảnh, im cả sao !
- Giới tôn giáo : cầu nguyện, tụng niệm, kiến nghị bảo vệ giáo dân (vùng khai thác hiện tại có nhiều bà con dân tộc theo đạo Tin Lành ), cho Quốc thái Dân an, cầu soi sáng những người lãnh đạo mù quáng, tham nhũng, tối tăm ...
Các tổ chức và cá nhân, hãy đánh động dư luận, bàn tán, trao đổi về đề tài Bôxít, những ngày nghỉ, buổi nghỉ, nhân các cuộc gặp mặt, ma chay, đình đám, hội hè, cưới xin ...
Các cử tri địa phương hãy chất vấn mạnh mẽ các đại biểu Quốc hội để buộc bộ chính trị CS phải mở mồm giải trình minh bạch trong khoá họp tháng 4 này.
Đặc biệt các bạn trẻ năng động đầy sáng kiến và nhiệt huyết !
Mỗi người góp một tay, chúng ta sẽ cùng nhau làm nên chuyện lớn. Toà nhà nào cũng làm nên từ từng viên gạch quý.
Xin bà con đồng bào ta đồng tâm nhất trí coi các đề tài đấu tranh nóng bỏng Xuân - Hè 2009 này là :
- chủ quyền quốc gia toàn vẹn trên đất liền, vùng biển và đảo của Tổ quốc : đòi công bố bản đồ chi tiết đường biên giới; đòi đăng ký thềm lục địa mở rộng cho Liên Hợp Quốc trước 13-5-2009.
- từ bỏ ngay việc khai thác bôxít theo thúc ép của ngoại bang, hiểm họa mọi mặt và lâu dài cho đất nước và dân tộc !
- đưa ra xét xử công khai không chậm trễ các vụ tham nhũng lớn PCI, PMU 18 ... và 10 vụ khác như Ban chống tham nhũng đã cam kết (vụ PMU18 kéo dài hơn 3 năm) .
Tình hình khẩn cấp. Tây Nguyên là mái nhà Việt nam.
Đất nước lâm nguy. Trong ngoài câu kết, họ phá ta từ mái nhà phá xuống.
Cả nước đứng cả dậy, thét : không ! không với khai thác Bôxít.
Stop ! Bôxít.
Không ! Việt nam không phải dân hèn, dân loại 2, gánh chịu muôn vàn tai hoạ thay cho dân thượng đẳng, thay cho chủ, như 15 bộ não lãnh đạo mất gốc thôi thúc. Thôi nhé ! Đủ quá rồi !
Keo này thử sức. Gan vàng dạ sắt. Cả nước, trong, ngoài gắn bó, Việt nam ta quyết thắng. Việt nam ta sẽ thắng !
Có phải không ? Cô ! bác ! anh! chị ! các bạn !
Bùi Tín
Paris 31-3-2009.

LỜI KÊU GỌI MỘT THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA


GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT

VIỆN HÓA ĐẠO
Thanh Minh Thiền Viện
90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon----------------------------------------
Phật lịch 2552 Số 03 /VHĐ/VT


LỜI KÊU GỌI MỘT THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA
để chống việc lấy Vàng dân tộc đổi Nhôm nước ngoài


Bất chấp những lời báo động hiểm nguy của các chuyên gia, trí thức về việc khai thác quặng bô-xit ở Tây nguyên, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dủng vẫn một mực tiến hành việc lựa chọn nhà thầu Trung quốc vào Tây nguyên khi khẳng định : "Khai thác bô-xít Tây nguyên là chủ trương của Đảng nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X", nghĩa là từ năm 2006.Toàn dân thông qua ý kiến của các giới chuyên gia, trí thức, học giả đưa lên báo chí, truyền thông, Internet đều báo động rằng khai thác bô-xít sẽ hủy diệt mầu xanh rừng Tây nguyên, làm thay đổi thổ nhưỡng của vùng đất đỏ bazan, làm tăng thêm nguy cơ về hạn hán kéo dài, lủ ống, lủ quét sẽ xẩy ra nhiều hơn, đồng thời ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ngọt để phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng hạ lưu ở miền Nam Trung bộ, Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Saigon. Từ nghìn xưa, mầu xanh rừng Tây nguyên bảo vệ cho việc tích trữ nước trong lòng đất, lọc không khí và điều hòa nhiệt độ toàn vùng. Phá hủy mầu xanh còn là phá hủy nghiêm trọng không những cảnh quan mà sắc thái văn hóa và quyền sống của hàng chục dân tộc ít người trên vùng cao.

Không là kim loại chiến lượcTheo các báo cáo khoa học thì quặng bô-xít để sản xuất nhôm không là kim loại chiến lược. Giá trị kinh tế của nhôm không cao hơn việc trồng cây công nghiệp ở Tây nguyên. Bô-xít là tài nguyên khoáng sản có hạn, không tái sinh. Còn cây công nghiệp là nguồn tài nguyên vô hạn và có tái sinh. Ấy là chưa nói đến công nghệ lạc hậu khai thác quặng bô-xít chỉ có ở Trung quốc là công nghệ "ướt", trong khi các quốc gia tiên tiến đã chuyển công nghệ "ướt" sang công nghệ "khô" trong việc thải bùn đỏ, là nguy cơ gây đại nạn sinh thái cho Tây nguyên, miền Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long.Bức thư ngỏ mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dủng cho biết từ năm 1980 Đảng và nhà nước đã đề nghị khối COMECON, tức khối kinh tế cộng sản Liên xô và Đông Âu, khai thác quặng bô-xít Tây nguyên. Nhưng theo thư ông Giáp thì "khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung bộ".

Nguy hại môi sinhVì tính chất nguy hại sinh thái và cư dân quanh vùng khai thác bô-xít mà Cục bảo vệ môi trường quốc gia Trung quốc đã đóng cửa 100 mỏ bô-xít trên lãnh thổ Trung quốc từ năm 2004 đến 2008. Tại Ấn độ năm 2004 đã có một phong trào quần chúng lớn rộng nổi dậy biểu tình chống việc khai thác bô-xít tại bang Orissa trên diện tích 1000 hecta làm nguy hại 60.000 cư dân.Tại Việt Nam hiện nay, chỉ nói đến một cứ điểm Đắk Nông ở phía cực nam Tây nguyên hiện đang có 7 mỏ khai thác bô-xít, tất thấy ngay nguy cơ sa mạc hóa - "bùn đỏ hóa mầu xanh" trên 6000 quả đồi với hàng trăm con suối trên một diện tích 600.000 hecta, nơi cư ngụ 29 dân tộc ít người, chủ yếu là cư dân bản địa người M'Nông. Để khai thác 5,4 tỉ tấn quặng thô bô-xít ở Đắk Nông thì chất thải bùn đỏ sẽ phủ lấp hàng nghìn buôn làng : khi ta biết rằng để có 1 tấn nhôm cần khai thác 4 tấn quặng bô-xít và thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ !
I

Nguy cơ mất nước bắt đầu

Lần này không chỉ Bắc thuộc Một Nghìn Năm, mà là Ba Nghìn Năm hay lâu hơn nữa khi lãnh đạo Nước Nhà không là Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt Nam.
Trước là chận đứng việc lấy Vàng, tức dân tộc, đổi lấy Nhôm ngoại quốc. Sau là bảo vệ sự Vẹn toàn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

Lời kêu gọi khẩn thiếtNhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi kêu gọi người Việt trong ngoài nước hãy tỏ thái độ trước nguy cơ hủy hoại mầu xanh Tây nguyên và đời sống của người Việt cùng như hàng chục dân tộc ít người trong việc khai thác quặng bô-xít không thông qua nghiên cứu khoa học và kinh tế, mà chỉ vụ vào sự lệ thuộc Bắc phương.

Báo động công luận thế giới
Kính xin người Việt nước ngoài khẩn cấp báo động công luận thế giới về đại nạn sinh thái Tây nguyên, và nguy cơ nối giáo Bắc Kinh trấn đóng yết hầu chiến lược vùng ba biên giới.

Bất tuân dân sự
Kính xin người Việt trong nước hãy tỏ thái độ bằng cuộc biểu dương BẤT TUÂN DÂN SỰ trong suốt tháng 5 kể từ ngày Lễ Lao động 1.5 sắp tới.

Tất cả Bất Tuân Dân Sự - Biểu Tình Tại GiaSống dưới chế độ độc tài, công an trị, người dân đã mất quyền biểu tình công cộng nói lên ngưỡng vọng thiết tha suốt 54 năm tại miền Bắc và 34 năm qua tại miền Nam, thì nay hãy BIỂU TÌNH TẠI GIA như một thái độ Bất tuân dân sự : Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, Thương gia, Tiểu thương không đến chợ, Sinh viên, học sinh không đến trường. Chúng ta có một tháng Tư để chuẩn bị lương thực cho gia đình nhằm thực hiện tháng Năm BẤT TUÂN DÂN SỰ - BIỂU TÌNH TẠI GIA để đòi hỏi ba yêu sách sau đây :

Yêu cầu 1: Nộp hồ sơ xác nhận thềm lục địa1. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam cấp tốc nộp hồ sơ xác nhận thềm lục địa của mình theoCông Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển cho Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS)trước ngày quy định của LHQ, là ngày 13 tháng 5 năm 2009, để bảo vệ quyền lợi và lãnh hải tổ quốc.
Nếu Đảng và Nhà nước vẫn làm ngơ trước quyền lợi của tổ quốc, thì xin các Cộng đồng Người Việt hải ngoại cấp tốc thành lập Ủy ban Bảo vệ Lãnh hải Việt Nam, thu tập hồ sơ, vận động quốc tế và can thiệp trực tiếp đến Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) để bảo vệ quê hương. .

Yêu cầu 2: Công bố hai bản hiệp ước biên giới2. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam công bố toàn bộ nội dung hai bản Hiệp ước Biên giới trên đất liền và trên biển ký kết giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1999 và 2000, kèm theo các bản đồlàbộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước, để toàn dân được biết sự toàn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

Yêu cầu 3: Triệu tập Đại Hội toàn dân chận đứng khai thác Bô Xít3. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam khẩn cấp triệu tập một Đại hội đại biểu toàn dân bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật cơ khí luyện kim, các chiến lược gia quân sự cùng đại biểu các thành phần dân tộc bất phân chính kiến, tôn giáo trong và ngoài nước để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên.

Tháng 5 là tháng Bất Tuân Dân Sự - Biểu Tình Tại GiaTháng Năm BẤT TUÂN DÂN SỰ - BIỂU TÌNH TẠI GIA sẽ là thái độ dủng cảm nói lên mối ưu tư Bảo vệ sinh thái và Vẹn toàn lãnh thổ của toàn dân trong giai đoạn cấp cứu của lịch sử. Dân chủ là Tiếng Nói, một tiếng nói đối thoại và tranh luận khi quê hương nguy biến để tiến tới giải pháp cứu nguy dân tộc. Nay là cơ hội và thời điểm sinh tử để Tiếng Nói cất lên thông qua một tháng BIỀU TÌNH TẠI GIA.

Kính xin đồng bào tiếp tay phổ biến và hưởng ứngKính xin đồng bào các giới trong nước hưởng ứng THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA trong suốt tháng 5.2009, và đồng bào các giới ở hải ngoại hưởng ứng bằng việc không về du lịch và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tháng Năm 2009, ngoại trừ những trường hợp riêng tư khẩn cấp hay bất khả.Kính xin các cơ quan truyền thông, báo chí giúp đỡ chuyển vận Lời kêu gọi này của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến các giới đồng bào trong và ngoài nước.
Thanh Minh Thiền viện,
Saigon ngày 29.3.2009
Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống
Kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2009

LM PHAN VĂN LỢI TÂM SỰ VỚI LM NGUYỄN VĂN LÝ




Lm Phan Văn Lợi tâm sự voi Lm Nguyễn Văn Lý nhân kỷ niệm hai năm phiên tòa Ô nhục.





Nhân kỷ niệm 2 năm ngày Linh mục Nguyễn Văn Lý và các chiến hữu bị CS kết án trong một phiên tòa quái đản và ô nhục tại Huế (30-03-2007), xin kính gởi đến Đồng bào VN Lời tâm sự của Linh mục Phan Văn Lợi ngỏ với Linh mục Nguyễn Văn Lý. Xin vui lòng phổ biến rộng rãi. Chúng tôi chân thành cảm ơn.
Tâm sự cùng Linh mục Nguyễn Văn Lý
nhân kỷ niệm hai năm phiên tòa ô nhục tại Hue^'




Huế ngày 25-03-2009
Anh Lý thân kính
Thế là Anh sắp bước vào năm tù thứ 17 của lần tù thứ 4! Còn hai bạn tù của Anh, Nguyễn Phong và Nguyễn Bình Thành, cũng bước sang năm thứ ba. Đối với Anh, nửa đời linh mục rồi còn gì!! Sao Anh lại “dại dột” thế? Khôn ngoan im lặng hay lịch sự biết điều, khiêm tốn xin xỏ hay âm thầm hợp tác, “chuyên chú tu hành” thay vì “hoạt động chính trị”, lấy nguyên tắc “được việc” thay vì “đúng việc” làm kim chỉ nam, Anh đã có thể sống thong dong nhàn nhã, xây dựng biết bao công trình, tổ chức biết bao lễ hội, xuất ngoại biết bao lượt lần để “làm sáng danh Chúa, cứu các linh hồn, tốt đời đẹp đạo”!?! Đàng này Anh lại cứ liên tục lên tiếng đấu tranh, bênh vực những thân phận đau khổ, để rồi liên tục chui vô nhà đá cho khổ cực tấm thân, phí cả đời trai trẻ!!
Có người từng nói là Anh và các bạn Anh trong Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền mắc khẩu nghiệp, gánh khẩu họa! Thầy Chí Thánh, Gioan Tẩy giả, Các Tông đồ và bao Ngôn sứ suốt dòng lịch sử Dân Chúa đã chẳng cùng số phận sao? Nếu Chúa Giêsu đừng có gọi lãnh đạo chính trị như bạo vương Hêrôđê là “con cáo già” (x. Lc 13,32), gọi lãnh đạo tôn giáo như các Biệt phái và Kinh sư là “lũ giả hình”, “loại mả tô vôi”, “hạng dẫn đường mù quáng”, “quân ngốn tài sản của các góa phụ” (x. Mt 23,13-27), đừng có lên tiếng khai mào sứ vụ kiểu khích động: “Thiên Chúa đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, người bị áp bức được tự do trả lại” (x. Lc 4,18), “Phúc cho ai bị bách hại vì sống công chính” (x. Mt 5,10)… Nếu Thánh Gioan Tẩy giả đừng có gọi phái Xa-đốc (hàng tư tế thỏa hiệp với quân xâm lược) là “nòi rắn độc” (x. Mt 3,7), đừng quở trách binh lính: “Chớ hà hiếp ai, không được tống tiền!” (x. Lc 3,14), đừng có cảnh cáo vua Hêrôđê: “Ngài đâu được phép lấy chị dâu làm vợ!” (x. Mt 14,4)... Nếu hai vị không mắc cái “bệnh ham nói”, “thói phê bình” những kẻ đang nắm quyền lực thì làm chi mà phải bị săn đuổi, chịu giam cầm và sống mới được 1/3 đời người đã phải bỏ mạng trên thập giá nhuốc nhơ hay dưới lưỡi gươm oan nghiệt? Nếu các ngôn sứ Cựu Ước đừng có lên án -với bao lời nảy lửa- những kẻ quyền thế quỵt lương (x. Gr 22,13; Ml 3,5), những tay giàu có gian lận (x. Am 8,5; Hs 12,8), những ông quan tòa vụ lợi (x. Mk 3,11; Is 1,23), những người lãnh đạo “chà đạp lên mặt kẻ nghèo khó” (x. Is 3,15)… thì làm chi mà phải bị cường quyền bách hại, giết chết, sống chưa mãn đời? Âu cũng là khẩu nghiệp! Mà Kinh Thánh có gọi các ngài là “làm chính trị” không nhỉ?
Anh đã hiểu rằng lời nhắc nhở của Chúa: “Hài nhi hỡi, con sẽ được gọi là ngôn sứ của Đấng Tối Cao” trong kinh sáng mà các linh mục và tu sĩ phải đọc mỗi ngày, thật thúc bách và đòi hỏi biết mấy! Anh đã hiểu rằng trong một xã hội mà hạng cầm quyền, đảng lãnh đạo chỉ biết bưng bít chân lý, chà đạp lẽ phải, tham nhũng bóc lột, áp bức bạo hành, công cụ hóa các thế lực tinh thần, thì vinh quang được làm chứng nhân, danh dự được làm ngôn sứ cho công lý, cho sự thật, cho Thiên Chúa đòi buộc phải ra khỏi thánh đường bình yên (dĩ nhiên không phải ra hẳn) để dấn thân vào trần thế hỗn loạn và can đảm trả giá. Có cuộc đời nào làm chiến sĩ cho phẩm giá của con người, cho quyền sống của thế nhân, cho tự do của tôn giáo, hay đơn giản là sống cho xứng phận người đứng thẳng, mà lại không lãnh sóng gió bão bùng, mà không gánh khổ đau bách hại?
Anh đã hiểu rằng hạng nghèo khó cần thương giúp hơn hết (như bổn phận của Giáo hội và của linh mục) không phải là hạng nghèo khó về của cải mà là hạng nghèo khó về nhân quyền. Nghèo về của cải chỉ khổ, nghèo về nhân quyền vừa khổ vừa nhục và còn kéo theo đủ thứ tai họa! Anh không chỉ bằng lòng với việc bác ái cứu trợ (vốn được bạo quyền hoan nghênh tán thưởng) mà còn tiến tới việc bác ái giải thoát (luôn bị cường lực cấm đoán cản ngăn) và cho đó là quan trọng hơn cả, khẩn thiết hơn cả, là cách giải quyết tận gốc vấn đề. Anh đã chẳng lẳng lặng xót thương, âm thầm cầu nguyện, kín đáo trợ giúp các nạn nhân của bất công, một đã dấn thân nhập cuộc, hiên ngang đứng cạnh nỗi khổ của đồng đạo, của đồng bào, của tôn giáo, của đất nước, và công khai lên tiếng, vạch mặt chỉ tên cái nguyên nhân sâu xa, cội nguồn đầu hết của mọi bất công bất hạnh : chủ nghĩa phi nhân, chính đảng chuyên quyền và chế độ toàn trị.
Xin cảm ơn Anh vì lời nói thẳng thắn và hành động can đảm, cái nhìn sâu sắc về xã hội và chiến lược đấu tranh đúng đắn (đồng thành lập Khối dân chủ bất bạo động 8406 chẳng hạn), cộng thêm tấm gương hy sinh trong tù ngục tháng năm dài của Anh, đã và đang dấy lên cả một phong trào đòi tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền trên Quê hương, đặc biệt kéo theo sự nhập cuộc ngày càng đông đảo của các đồng nghiệp linh mục. Nhất là khi vấn đề quyền con người đang mở rộng ra thành vấn đề quyền dân tộc với hiểm họa giang sơn Tổ quốc bị xâm lấn, an ninh Tổ quốc bị đe dọa, với viễn tượng nước mất, nhà tan, đạo tiêu tùng! Nếu các lãnh đạo tinh thần không lên tiếng lúc dầu sôi lửa bỏng này, lúc mà giáo dân và lương dân đang mong đợi họ, cầu khẩn họ, thì khi đất nước trở lại thanh bình, sạch bóng Cộng sản, thoát đại nạn ngoại xâm, ai mà còn thèm nghe họ nữa, như kinh nghiệm thấm thía hiện giờ bên Đông Âu của các lãnh đạo tinh thần đã lặng câm như hến hay đã thỏa hiệp với quỷ!
Xin cảm ơn Anh đã làm người khởi xướng mạnh mẽ, bắn phát súng lệnh (cụ thể và đặc biệt qua 9 Lời Kêu gọi từ tháng 12-2000 đến tháng 02-2001) cho đại cuộc đòi lại các tài sản vật chất và tinh thần mà các tập thể lẫn cá nhân, dân sự lẫn tôn giáo đang tiến hành ngày càng quyết liệt. Những cuộc đòi đất đai của các dân oan và của các giáo hội, đòi công bằng của các công nhân, đòi độc lập của các tôn giáo, đòi nhân quyền của các nhà dân chủ, đòi tham gia việc nước và đòi tài sản tổ tiên của mọi tấm lòng ái quốc hôm nay đã chẳng cảm hứng phần lớn từ những Lời Kêu gọi ấy sao? đã chẳng được nhắc nhở phần lớn trong những Lời Kêu gọi ấy sao? Nhưng rồi, chính vì những lời khởi xướng ấy mà Anh đã phải gánh chịu bao đau khổ và tù ngục. Phải chăng đó là nỗi bất hạnh của người thức dậy sớm? Đau khổ ấy đến từ bên ngoài cũng như tự bên trong.
Mới đây thôi, khi được hỏi vì sao không lên tiếng bênh vực cho Anh, một trong những người có trách nhiệm về Anh đã trả lời (đại ý): “Vì cha Lý đã chẳng giữ tư cách mình là một linh mục trước tòa án. Sao lại có những hành động như lấy chân đá vành móng ngựa, sau đó lại nắm tay cao thẳng lên (sic) hô to “Đả đảo đảng Cộng sản”! Như thế có khác chi một giáo dân la hét trong nhà thờ!”. Trời ơi, cái phiên tòa đó (và chuỗi ngày thẩm vấn các bị can trước đó), ai chẳng biết là đầy gian manh, cưỡng bức, vô luật, không trạng sư, không chứng nhân, không thân thuộc, không quyền tự vệ, lại còn bịt miệng và chận họng các bị cáo, nghĩa là phiên tòa của một bọn cướp, trong đó chẳng tồn tại công lý, chẳng tồn tại pháp luật, hết sức bất công, thô bỉ và quái đản, rất đáng bị đả đảo (y như những sự việc cũng quái đản, thô bỉ và bất công không kém quanh vụ sơ thẩm và phúc thẩm 8 giáo dân Thái Hà), thế mà lại đem so sánh nó với chốn thánh đường tôn nghiêm? Nói thế thì khác gì tay chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đã kết án các Linh mục Thái Hà trong thư gửi Hội đồng Giám mục VN và Giám tỉnh Dòng CCT ngày 12-12-2008: “Trước và trong quá trình diễn ra phiên tòa, một số giáo sĩ tại nhà thờ Thái Hà… đã có những lời nói, việc làm cổ súy, khuyến khích các hành vi vi phạm Pháp luật... đã có thái độ và lời nói phỉ báng Pháp luật và Nhà nước Việt Nam… đã nói phiên tòa là “phiên tòa của ma quỷ và bóng tối”… Các linh mục ấy đáng bị điều chuyển khỏi địa phận thành phố Hà Nội”. Phải chăng người ta muốn biến hai câu thơ nổi tiếng của Anh: “Tòa án Cộng sản Việt Nam: trò hề bỉ ổi ngàn năm chê cười” thành “Tòa án Cộng sản Việt Nam: thánh đường công lý ngàn năm rạng ngời” ? Phải chăng chỉ vì dám chân đá, miệng hô đả đảo cái nền pháp chế khốn nạn như thế (cũng như lũ người đẻ ra nó) mà những gì Anh đã làm và đã chịu vì Quê hương và Đạo giáo trở thành xấu xa, tội lỗi, không thể can thiệp và bênh vực được?
May thay, bên cạnh thái độ dửng dưng, vô trách nhiệm đến gây ngỡ ngàng đó, đa số đồng bào quốc nội lẫn hải ngoại và cộng đồng dân chủ thế giới đều bênh vực Anh, ủng hộ Anh, tiếp bước Anh… Bằng chứng là cuốn “Vụ án Lm Nguyễn Văn Lý và lương tâm công giáo” (2007) và cuốn “Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, cuộc đời đấu tranh cho tôn giáo và dân chủ nhân quyền” (2008) đã được phổ biến rộng rãi. Bằng chứng là tấm hình Anh bị bạo quyền bịt miệng trong phiên tòa ô nhục ngày 30-03-2007 đã bay khắp thế giới, in ra hàng triệu bản, hiện diện nơi đâu mà dân Việt yêu nước biểu tình, triển lãm, hội thảo… Mười ba panô (billboard) khổng lồ về cảnh độc đáo đó đang được dựng lên ở Hoa Kỳ và Úc châu. Tấm hình này còn được tặng riêng cho chính giới và báo giới nhiều nước cũng như dí vào mặt đám lãnh đạo và cán bộ VC xuất ngoại… Nó là biểu tượng cho Việt Nam hôm nay, là lá bùa trù yểm Việt cộng gian đảng, là lời hiệu triệu cho toàn thể Đồng bào… Bằng chứng là từ nhiều năm nay, bao tổ chức đoàn thể trên thế giới (Việt Nam lẫn ngoại quốc) đều liên tục đòi trả tự do và danh dự cho Anh lẫn các chiến sĩ dân chủ đang bị tù đày… Bằng chứng là tổ chức quần chúng đấu tranh và cơ quan ngôn luận tranh đấu mà Anh đồng thành lập, tức Khối 8406 và tờ Tự do Ngôn luận, vẫn lừng lững tiến trên con đường trực diện với Cộng sản, bất chấp mọi đánh phá, trả thù hèn hạ và nham hiểm của họ.
Anh Lý, Anh Phong, Anh Thành và Quý Chiến sĩ dân chủ, Tù nhân lương tâm, Anh hùng Dân tộc thương kính, xin hãy an lòng! Hy sinh của bản thân và gia đình Quý Vị đang là dầu giữ mãi ngọn đuốc đấu tranh và là lực thúc đẩy toàn thể dân tộc bịt miệng vĩnh viễn và tống cổ muôn đời cái ác đảng độc tài toàn trị, buôn dân bán nước một ngày nào đó gần đây thôi! Thiên Chúa và Dân tộc đang nhìn Anh và các Vị như những người con yêu quý!

Viết tại Huế ngày 25-03-2009,
nhân kỷ niệm hai năm phiên tòa ô nhục!
Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi