Thứ Hai, 23 tháng 11, 2009

CẢM TẠ CHÚA : TÔI ĐÃ RỜI KHỎI ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM CỘNG SẢN !


Ed Oshiro, MPH
Trần Trúc Lâm chuyển ngữ
(LTS: Ai có ý định về VN làm ăn hay làm việc thiện nguyện, xin hãy đọc kỹ bài này).


Ba mươi phút sau khi chuyến bay của hãng Hàng Không Việt Nam chở chúng tôi rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, chúng tôi nhìn xuống những đồng bằng màu đỏ trơ trụi của xứ Cambodia, tôi và vợ tôi bỗng dưng có một cảm giác kỳ lạ của sự thoải mái và tự do. Hú vía, chúng tôi thực sự đã thoát khỏi những sự sách nhiễu, hăm dọa và tham nhũng thường nhật của các giới chức Việt Nam, và cái gánh nặng đè trên vai trong ba tháng qua chợt trút mất.
Mọi chuyện như bắt đầu từ mùa thu năm ngoái, khi tôi nhận làm quản lý hải ngoại vụ cho Cơ Sở Đông Gặp Tây (East Meets West Foundation) hiện đang trông coi một bệnh xá toàn khoa cho “kẻ nghèo nhất trong đám nghèo” và một cô nhi viện với 125 trẻ em ở ngoại ô thành phố Đà Nẳng, Việt Nam. Tôi đã quyết định chụp lấy cơ hội hưu trí sớm với đầy đủ cấp dưỡng do Group Health đề nghị và về hưu vào đầu tháng Giêng với ý định đi phục vụ tình nguyện khoảng một đến hai năm tại Việt Nam , bắt đầu vào giữa tháng giêng.
Công tác của tôi là giúp bệnh xá hoạt động được hữu hiệu hơn và hướng dẫn những chương trình về giáo dục y tế công cộng cho bốn làng hẻo lánh. Vợ tôi thì được giao việc ở cô nhi viện như là giáo viên mỹ thuật và dạy Anh ngữ cho các nhân viên.
Một điều báo trước cho những việc sẽ gặp ở trong nước Việt Nam thực ra đã bắt đầu khi chúng tôi bay xuống San Francisco để nhận giấy chiếu khán đi Việt Nam. Khi đến San Francisco thì chúng tôi được báo rằng viên chức Bộ Ngoại Giao (Việt cộng) muốn chúng tôi phải thuê căn phòng của y ở Đà Nẳng với giá 700 đô la mỗi tháng, với sáu tháng tiền nhà đưa trước. Chúng tôi phản đối và y không chịu cấp giấy nhập cảnh nữa, chúng tôi đành phải quay về lại Seattle để chờ Cơ sở tiếp tục thương lượng. Cuối cùng đến tháng Hai, sau khi đồng ý với vụ sắp xếp, trả cho y 4200 đô la, và dấu nhập cảnh cho ba tháng thay vì một năm, chúng tôi bay đi Việt Nam. Khi đến nơi thì căn phòng, hỡi ôi! còn đang sửa chữa và chúng tôi đành ở khách sạn với giá 15 đô la một ngày.
Vừa vào đến Việt Nam thì tất cả đĩa điện toán của chúng tôi đều bị tịch thâu ngay, và mãi đến ba tuần mới được trả sau khi đóng 40 đô la gọi là “lệ phí bảo quản” và có cả khối bản phụ được sao chép (để bán về sau).
Ngày đầu làm việc trong văn phòng, tôi nhắc máy điện thoại để gọi con gái tôi ở Seattle và đã có thể nghe rõ tiếng nhạc quân hành văng vẳng trong máy suốt cuộc điện đàm. Tôi nhắc lại chuyện đó với nhân viên người Việt thì được họ cho biết là công an và quân đội luôn theo dõi nghe trộm mọi cuộc điện đàm.
Chúng tôi được khuyến cáo là ngay cả thư từ cũng được mở ra đọc ngang xương, cho nên phải cẩn thận khi viết. Có một lần công an gọi tôi phải đem tờ báo cáo tài chính cuối tháng cho họ xem để họ quyết định cho gởi hay không.
Vài ngày sau khi tôi bắt đầu làm việc, thì cô kế toán viên bay đi Florida để làm đám cưới với anh bác sĩ Mỹ mà cô đã quen trong thời gian anh ta phục vụ tình nguyện cho bệnh xá. Khi chúng tôi rao tuyển người thay thế thì viên Bộ Trưởng chuyển đến một danh sách ứng viên mà y muốn chúng tôi thâu dụng. Chúng tôi bác ngay vì họ không biết tí gì về kế toán và chẳng có chút năng khiếu gì về Anh ngữ. Chúng tôi tuyển được một cô có bằng kế toán và nói giỏi tiếng Anh, nhưng viên Bộ trưởng và Sở Công An lại trì hoản việc chuẩn y thâu dụng, cho mãi đến khi tôi nghĩ rằng, có chút tiền đút lót hoặc cô ta chịu chia một phần lương của cô.
Chúng tôi được biết rằng tất cả nhân viên người Việt đều buộc phải đóng một phần tiền lương cho công an, các viên chức nhà nước, đảng viên, v.v... Đã mấy lần công an đến văn phòng chúng tôi hạch hỏi vì sao chúng tôi không dùng người của họ.
Bất ngờ có một bác sĩ người Việt lại nộp đơn xin làm kế toán bởi vì anh đã thất nghiệp đến hơn 5 năm nay. Quả có hàng trăm bác sĩ thất nghiệp mặc dù họ thuộc hạng lao động có lương thấp nhất ở Việt Nam ... 30 đô la một tháng. Tôi chẳng thể nào hiểu được vì sao lại có quá nhiều bác sĩ thất nghiệp tại Việt Nam . Tôi được nghe kể rằng họ buộc phải ghi danh quỹ 1,500 đô la để được thực tập và lấy kinh nghiệm ở bệnh viện sau khi học xong. Không có kinh nghiệm ở bệnh viện là thất nghiệp. Tôi lại được biết có một sự kỳ thị nặng nề đối với dân trong Nam , đặc biệt là những người đã từng phục vụ cho chế độ cũ. Hầu hết những bác sĩ thất nghiệp mà chúng tôi đã gặp là dân miền Nam .
Trong phần họp định hướng tại Hoa Kỳ, chúng tôi được báo cho biết rằng các bác sĩ tại bệnh xá làng Hòa Bình rất lười và ù lì, vì họ chỉ biết có một điều là viết toa cho thuốc bổ sinh tố. Sau khi làm việc với họ vài ngày, tôi nhận thấy họ rất thông minh, rất ham học để hành nghề tốt và sẵn sàng đón nhận những sự giúp đỡ để trở thành thầy thuốc giỏi. Điều đáng tiếc là sự đào tạo của họ tệ quá, cho nên họ chỉ giỏi viết toa sinh tố cho mọi bệnh trạng.
Mỗi ngày trong một tuần, các bác sĩ đi khám bệnh ở một trong những làng lân cận. Tôi đi theo họ vài lần và nhận thấy rằng sinh tố được cấp cho mọi chứng: sốt rét, mù lòa, sốt nóng, bệnh ký sinh trùng, tiểu ra máu, tiêu chảy, v.v... Họ đâu có thể làm gì khác hơn được? Họ chẳng có món thuốc nào ngoài vài lọ Ampicilin. Mấy bác sĩ bảo rằng ít ra cũng nên cho bệnh nhân món gì để đem về nhà, và họ cấp sinh tố. À ra thế! Trụ sinh thì ai cũng có thể mua được chẳng cần toa cho nên nhà nào cũng có vài lọ trữ sẵn. Ngay cả thông dịch viên của tôi cũng dùng trụ sinh cho nhức đầu, cảm, tiêu chảy, đau lưng, hoặc khi cô ta cảm thấy không được khỏe.
Một bác sĩ Sản Phụ Khoa từ San Diego đã làm việc vài ngày tại bệnh xá và bà chỉ cho các bác sĩ cách sử dụng mỏ vịt đế khám âm đạo. Năm sau, ông ta quay lại và bất bình vì các bác sĩ không dùng mỏ vịt. Ông ta báo cáo với Ban Quan Trị Cơ Sở Đông Gặp Tây ở San Francisco rằng các bác sĩ ở bệnh xá ù lì và lười biếng. Tôi báo cáo về Ban Quản Trị chất vấn sự giám định của ông ta. Các bác sĩ tại bệnh xá không thể nào học khám và chữa bệnh phụ khoa trong vài ngày được, và kỹ thuật viên phòng thí nghiệm chỉ làm được dăm ba xét nghiệm đơn giản mà thôi. Cho dù họ có khám ra được điều gì đi nữa thì cũng chẳng có thuốc men và dụng cụ để điều trị. Tại sao phải đi học những chuyện mà dù có biết mình cũng đành bó tay? Tôi cảm thấy rằng bác sĩ Mỹ tình nguyện làm việc tại bệnh xá làng Hòa Bình thiếu nhạy bén và làm hại nhiều hơn là giúp đỡ.
Sau khi ổn định công việc, tôi liền gặp viên Bộ trưởng Y Tế (Việt Cộng) để đề nghị xúc tiến dự án hướng dẫn y tế công cộng cho bốn làng, và ông ta cũng thích thú về ý kiến đó. Ông ta nhận bản dự án đó và bảo rằng ông ta sẽ thảo luận với Ủy Ban Nhân Dân rồi cho tôi biết sau, hai tuần sau, ông ta gửi cho chúng tôi một lá thư nói rằng bản dự án đó đã được chấp thuận và Bộ sẽ thi hành, nhưng họ lại muốn tôi tài trợ 25 ngàn đô la. Tôi trả lời rằng tôi không có tiền mà chỉ có sự hiểu biết, thời giờ và lòng nhiệt thành muốn huấn luyện và làm việc với các nhân viên y tế mà thôi, nhưng họ chẳng tha thiết mấy đến sự tham gia của tôi – mà chỉ nghĩ đến tiền của tôi thôi. Tôi không được mời trở lại Bộ Y Tế nữa.
Khi tôi đi thăm ngôi làng đầu tiên để lượng định về y tế thì tôi được gặp Chủ Tịch Nhân Dân xã và y dẫn tôi đi thăm những gia đình nghèo nhất. Tại mỗi nhà y đòi tôi giúp cho những món mà gia đình đó cần như một mái nhà mới, tiền mua gạo, áo quần, xe lăn, v.v... Đến khi tôi nhắc đi nhắc lại rằng tôi đến đây không phải để cho tiền, y liền bảo thông dịch viên dẫn tôi ra khỏi làng ngay.
Ở một làng khác, các viên chức đòi tôi phải cấp một ngân khoản để xây một ngôi chợ mới, và khi họ biết tôi không thể làm được, họ bắt giữ tôi lại tại chỗ rồi ra lệnh cấm tôi rời khỏi trụ sở ủy ban. Đêm đó tôi bị buộc phải ngủ trên sàn gỗ bẩn thỉu với một mảnh mền rách, và một tên an ninh nằm ngủ bên cạnh canh phòng tôi trốn. Cho thêm phần khốn khổ, tên an ninh này lại bị cụt tay vì mìn, y đặt cánh tay cụt lên bụng tôi suốt đêm mà ngủ. Còn tôi thì làm sao mà ngủ được, nằm nghĩ ngợi lung tung, mấy ai tin được rằng tôi lại ngủ trên sàn nhà một văn phòng đảng Cộng Sản, cạnh một tên công an Cộng Sản, mà cánh tay cụt của hắn lại đặt trên bụng tôi! Đó là một trong những đêm kinh dị và hãi hùng nhất trong đời. Tôi cứ ngỡ mình bị ác mộng.
Vì tôi trú trong khách sạn nên phải đi ăn tiệm. Chỉ có một nơi mà chúng tôi và hầu hết các du khách đến ăn mà không sợ bệnh là nhà hàng mang tên Christies. Mỗi đêm chúng tôi gặp nhóm Thủy Quân Lục Chiến và quân nhân Mỹ đến Việt Nam tìm kiếm lính mất tích trong cuộc chiến (MIA’s). Họ bảo ràng mỗi làng đều có mánh khóe làm ăn trong vụ này. Chức sắc ở làng có thể báo cáo là đã chôn hai hay ba xác lính Mỹ ngoài ruộng. Thế là Hoa Kỳ phải mất khoảng 10 ngàn đô la cho việc đào xới và mướn phu phen địa phương.
Các giới chức Mỹ mà tôi chuyện trò bảo rằng từ năm 1991, họ chẳng tìm ra cái gì ráo và cũng chẳng mong mỏi tìm thêm cái gì khác. Họ được yêu cầu trú tại khách sạn của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam với giá 75 đô la một đêm và phải thuê phi cơ trực thăng chở họ đến các làng, mà giá của một giờ bay trực thăng là 750 đô la. Có khoảng 30 quân nhân Hoa Kỳ tìm kiếm MIAs tại Đà Nẳng và ở mỗi thành phố lớn đều có một nhóm như vậy. Dĩ nhiên là Hoa Kỳ tốn hàng triệu đô la vào túi các viên chức người Việt!
Sau hai tháng rõ ràng là chẳng ai cần đến chúng tôi tại Việt Nam . Cô nhi viện thì đã được Chính Phủ Hoa Kỳ tài trợ dồi dào và nhân viên Việt Nam thì làm việc xuất sắc. Trẻ em học ở trường nhà nước, được dạy nghề mộc, may vá, điện toán, v.v... và một bác sĩ toàn thời chăm sóc sức khỏe cho chúng. Chúng có cả sân bóng rổ, bóng bàn, máy truyền hình, mày chiếu hình, xe đạp, máy điện toán, một nông trại trồng rau, chúng nuôi gà và lợn để sinh lợi. Ai cũng biết rằng chúng sống khá hơn đại đa số trẻ con khác ở Việt Nam ! Tôi đã tìm cách tăng lương cho tất cả các bác sĩ và nhân viên (Việt Nam) tại bệnh xá từ 30 đô la đến 50 đô la mỗi tháng. Nhà cầm quyền lại đòi rằng ai cũng được trả đồng hạng dù là bác sĩ hay y công.
Tôi cũng đã giúp vào một chương trình phát triển dài hạn giáo dục liên tục cho các bác sĩ. Một bác sĩ tim mạch ở Nhật chịu đỡ đầu hàng năm, trong nhiều năm về sau, cho một bác sĩ của bệnh xá luân phiên qua tu học tại bệnh viện Okasa khoảng sáu tháng. Người đầu tiên đi Osaka đã rời hồi tháng Sáu. Tôi cũng đã bắt liên lạc với bệnh viện Huế xin các bác sĩ của bệnh viện thực tập và chúng tôi chịu trả tiền phí tổn huấn luyện. Tôi đã đệ trình dự án này với Ban Quản Trị Cơ Sở Đông Gặp Tây vào ngày công tác cuối cùng của tôi ở Việt Nam . Hy vọng rằng Ban Quản Trị sẽ biểu quyết tán đồng chương trình này. Tôi cảm thấy quá rẻ để huấn luyện một bác sĩ với giá 1500 đô la.
Vài tuần sau khi đến Đà Nẳng, viên chức Bộ Ngoại Giao đòi thêm tiền để dứt điểm việc tu bổ căn phòng và mua đồ bày biện. Nhưng chúng tôi được biết rằng một bác sĩ Việt Nam kiếm được 30 đô la một tháng và đã trả, có lẽ từ 10 đến 15 đô la tiền thuê căn phòng như thế nên chúng tôi đã lịch sự phất lờ đòi hỏi thêm tiền của y. Y bèn trở mặt chèn ép, đòi chúng tôi phải báo cáo trước chi tiết lộ trình mỗi hai tuần, không cứu xét yêu cầu gia hạn chiếu khán và làm khó dễ các nhân viên người Việt của bệnh xá.
Ba tháng sau khi đến Việt Nam viên chức Bộ Ngoại Giao bảo rằng chúng tôi có thể vào ở được rồi, và chúng tôi chỉ trú – có mỗi một đêm. Căn phòng chỉ được tu sửa nửa chừng với dây điện còn lòng thòng từ trần nhà, tường được sơn một phần, ống nước chưa được nối vào, không có bàn ghế và gián thì ôi thôi, bò lổn ngổn khắp nơi. Chỉ trong mấy phút mà tôi xài hết một lọ xịt côn trùng và sàn nhà đầy la liệt cả gián dài khoảng 2 đốt tay đang nằm ngửa ngo ngoe.
Chúng tôi dọn trở lại khách sạn sau đúng một đêm. Viên chức Bộ Ngoại Giao rất bực dọc và gay gắt bảo chúng tôi nên rời khỏi nước nếu không hài lòng. Lần đầu tiên chúng tôi cảm thấy sợ hãi, chúng tôi biết rằng y có thể bỏ tù chúng tôi hoặc dàn cảnh một tai nạn mà chẳng ai có thể làm gì được.
Biết rõ rằng chẳng ai muốn và cần đến chúng tôi tại Việt Nam, sự đóng góp của chúng tôi cũng nhỏ nhoi, và có một sự đe dọa đến an ninh của chúng tôi, chúng tôi quyết định rời khỏi Việt Nam. Chúng tôi cũng bị dằn vặt bởi quyết định này vì chúng tôi đã đến và mến yêu trẻ mồ côi, những người làm việc chung và cái bệnh xá làng Hòa Bình. Chúng tôi mang theo một tình cảm rất nồng nàn đối với dân Việt, đối với đất nước tuyệt đẹp này, và mong một ngày nào đó sẽ trở lại để hoàn tất những công tác đã phát khởi.
Một ngày kia, cái thế hệ lãnh đạo hiện nay sẽ trao quyền lại và Việt Nam sẽ vươn mình như con bướm sặc sỡ của vùng Đông Nam Á.


Ed Oshiro hiện về hưu và ngụ tại Mercer Island (thành phố Seattle, tiểu bang Washington) nguyên là Phụ Tá Giám Đốc Chương Trình Giáo Dục Y Tế của Group Health Cooperatives.

GOOD-BYE VIETNAMby Ed Oshiro, MPH (Master of Public Health)

Thirty minutes after our Vietnam Airline flight departed from Tan Son Nhut airport in Ho Chi Minh City, we looked down upon the denuded red plains and my wife and I instantaneously felt an incredible sense of relief and freedom. We were finally free from the daily harassment, intimidation and greed of the Vietnamese officials and we could actually feel the weight of the last three months lift off our shoulders.
It all began last fall when I was accepted as the overseas manager for the East Meets West Foundation which operated primary care clinic for the “poorest of the poor” and an orphanage for 125 children on the outkirts of Da Nang, Vietnam. I had decided to take advantage of the early retirement package offered by Group Health and retired in January with the intention of volunteering in Vietnam for a year or two, beginning in mid-January. My mission was to help the clinic become more efficient and effective and to conduct=2 0pilot public health education programs in four remote villages. My wife was assigned to work with the orphanage as an art and recreation instructor, and to teach English to the staff.
A preview of what we were to experience in country actually began when we flew to San Francisco to pick up our visa on our way to Vietnam. Upon our arrival in San Francisco, we were advised that the Foreign Minister, who issues the visas, wanted us to rent his appartment in Da Nang for $700 a month, with a six month advance payment. We objected, he refused to issue the visas, so we return to Seattle while the Foundation continued the negotiations. Finally, in February, we agreed to the arrangement, paid him $4200, and with a 3 month instead of a 12-month visa, flew to Vietnam. When we arrived, the apartment, of course, still being renovated so we were compelled to stay in a hotel at $45 a day. Upon entering Vietnam, all of our computer discs were cofiscated and only after paying a $40 “handling fee” and copies had been made (for later resale) were they returned to us three weeks later.
On our first day in the office, I picked up the telephone to call my daughter in Seattle and noticed that martial music could be heard in the background during our conversation. I later mentioned that to the Vietnamese staff and they stated the police and military were listening in on all of our telephone calls. We were also warned that our letters were opened and read by the government, so we h ad to be careful what we wrote. Once, I was required to take a month-end financial report to the police and they decided whether it should be sent off or not.
A few days after we began working in the office, the Vietnamese accountant left for Florida to marry an American doctor she had met when he came to Da Nang to volunteer at the clinic. When we announced the position, the minister sent us candidates who had no accounting training nor English language skills and hired a certified accountant who spoke fluent English. The Minister and the Security Police delayed approval of the new employee, untill, we suspect, some money changed hands or she agreed to kick back a percentage of her salary. We were informed that all the Vietnamese employees were required to pay the police, government offcials, party member, ect, a portion of their salary. The Security Police came to our office to demand, several times, why we refused to hire their candidates.
Incidentally, a Vietnamese physician applied for the accounting job because he had been unemployed for over five years. Apparently, there were hundreds of doctors that were unemployed in spite of the fact that they are some of the lowest paid workers in Vietnam… $30 a month. I never learned why there were so many unemployed doctors. I was told that they had to pay upwards of $1500 to get practical training and experience in a hospital after they completed their training. Without the training, they were unemployable. I also became aware20that there was tremendous discrimination against the South Vietnamese, especially these whose family members supported the defeated government. Most of the unemployed doctors we met were South Vietnamese.
During my orientation in the States, I was warned that the doctors at the Peace Village Clinic were lazy and unmotivated, and only knew how to prescribe vitamins. After spending a few days with the doctors, I found them to be very intelligent, very willing to learn to practice good medicine and were eager to receive any assistance that would enable them to become good practitioners. Unfortunately, their medical training was so poor and inadequate that they were only qualified to prescribe vitamins for every affliction. One day a week, the doctors visited one of the surrounding villages and provided care to the people. I accompanied them on several visits and noted that vitamins were precribed for every ailment, malaria, blindness, fevers, parasites, blood in the urine, diarrhea, ect. What else could they do? They didn’t have any other drugs except a few bottles of Ampicillin. The doctors claim that they had to give the patients something to take home so they prescribed vitamins. Made sense to me. Antibiotics may be purchased over the counter so every Vietnamese already had several bottles at home. My translater took antibiotics for headaches, colds, diarrhea, backache, and when she just was not feeling well.
An OB/GYN doctor from San Diego spent a few days at the clinic and showed the doctors how to use a vaginal speculum. A year later, he returned and was very upset that the doctors were not using the speculum and complained to the East Meets West Foundation Board in San Francisco that the doctors were unmotivated and lazy. My report to the Board questioned his assessment. The doctors could not be trained in diagnose and treat gynecological diseases in a few days and the lab tech was only able to do very simple tests. Even if they did, find something, there were no drugs or equipment to treat the problem. Why look for something if you can’t do anything about it? I felt that some of the American doctors who volunteered at the Peace Village Clinic were very insensitive and did more harm than good.
As soon as I had settled in, I met with the Minister of Health with a proposal to conduct a pilot public health project in four villages and he seemed to be very enthusiastic about the idea. He accepted the proposal and informed me that he would discuss it with the People’s Commitee and get back to me. Two weeks later, he sent me a letter stating that the project was approved and that the Ministry would implement it, but they wanted me to provide them with $20,000. I stated that I did not have the money, only the knowledge, time and willingness to do the training and work with the health workers, but they were not interested in my participation – only my money. I was not invited back to the Ministry.
When I visited my first village to do a health assessment. I was met by the Director of the People’s Committee who took me around to the homes of the poorest families. At each farm house, he requested that I pay for something that the family needed, for example: a new roof, a new well, a new house, money for rice, clothes, wheel chair, etc. When I stated over and over that I was not there to give them money, he finally told my translator to get me out of the village. At another village, the officials demanded that I provide them with funds to build a new school and when they realized that I would not provide the funds, I was immediately put under house arrest and ordered not to leave the grounds of the People’s Committe office. That night, I was ordered to sleep on the dirty wood floor of the office with only a tattered blanket, and one of the security police officer slept next to me to assure that I did not leave the building. To add to my misery, the officer, whose hand had been blown off by a land mine, place his stump on my stomatch all night while he slept. I, of couse, did not sleep a wink and keep thinking who would ever believe that I would be sleeping on the floor of a Communist party office, next to a Viet Cong policeman whose handless arm rested on my belly! It was one of strangest and scarrest night I have experienced. I kept wondering if I was having a nightmare.
Because we were living in a hotel, we had to eat our meals in restaurants. The only place we and most visitors c ould eat in Da Nang without getting sick was a restaurant called Christies. Every night, we met American marrines and soldiers who were in Vietnam searching for MIA’s. They stated that every village had a scam in operation. The village leaders would claim to have burried in the rice fields two or three Americans who had died during the war. It would cost the American $10,000 to dig in the fields and to hire local workers. The officers we talked to claimed that since 1991 they had found nothing and they didn’t expect to find anything. They were required to stay in Vietnam Army Hotel for $75 a night and hire the Vietnam helicopter to take them to the village. We were informed that it cost $750 an hour for the helicopter ride. There were about 30 US military personel looking for MIA’s in Da Nang and every major city had a silmilar team. It is coating the US milion of dollars and the Vietnamese are laughing all the way to the bank!
After a couple of months, it became very evident to us that we were not needed in VietNam. The orphanage was being very adequately funded by the US Government and the Vietnamese staff was excellent. The kids were attended in the government school, being provided with training in carpentry, sewing, computer, etc … and a full time physician took care of the medical needs of the children. They had a basketball court, ping-pong tables, television, videos, bicycles, computers, a vegetable farm, and they raised chickens and pigs for income. The Vietnamese cl aimed that these chidren, in fact, lived better than all other children in Vietnam.
I was able to raise the salaries of all the doctors, and the rest of clinic staff from $30 to $50 a month. The government required every employee to be paid the same amount whether he/she were a doctor or janitor. I also assisted in development of a long term continuing education program for the doctors.. A cadiologist from Japan is sponsoring each year, one doctor from the Peace Village Clinic, who will spend six months in her hospital in Osaka for next few years. The first doctor left Osaka in June. I also opened communication with the Hue hospital to accept our doctors into their resisdency program with us paying for the training. I presented this proposal to East Meets West Foundation Board on my last day in the country. Hopefully, the Boad will vote favourably on this program. I feel that it is very inexpensive to train the doctor for $1600.
Several weeks after we arrived in Da Nang, the Forein Minister demanded more money to finish renovating the apartment to purchase furniture. We were aware of this fact that a Vietnamese doctor makes $30 a month and he would pay, perhaps $10-$15 a month to rent that apartment so we politely ignore his demand for more money. He tightened the screws by requiring us to to provide him with a detailed itinerary as to where we would be every hour, two weeks in advance, by holding up our request for a visa extention and by intimidating our Viet namese office staff. Three months after we arrived, the Foreign Minister said we could move into the house and we did – for one night. It was only partially completed with electric wires dangling from the ceiling, walls partially painted, plumbing unconnected, no furniture and cockroaches crawling everywhere. In a few minutes, I used up a can of insecticide and the floor was covered with two-inch long cockroaches lying on their backs, leg flailing away. We moved back to the hotel after one night. The minister became very upset and advised us to leave the country if we were unhappy. For the first time ever, we experience real fear. We realized that he could jail us or arrange an accident and no one could do anything about it.
Realizing that we were not really wanted or needed in the country, that our contributions would be negligible, and that there was a real threat to our safety, we made the decision to leave Vietnam. We agonized over the decision because we had come to love the children in the orphanage and the people working there as well as at the Peace Village Clinic. We have very warm feelings for the Vietnamese people and the incredibly beautiful country, and we would, someday, like to return there complete the work we have begun.
One day, this generation of leaders will pass on and then Vietnamese will emerge to become to the butterfly of Southeast Asia.

Ed. Oshiro

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2009

ĐẢNG CSVN : MỘT TỔ CHỨC LƯU MANH ĂN BÁM LỚN NHẤT THẾ GIỚI


TỘI ÁC CỘNG SẢN VIỆT NAM:
Đảng Cộng Sản VN: Một tổ chức lưu manh ăn bám lớn nhất thế giới
Trần Nhu

*Trên thế giới này từ cổ đến cận kim, không có một tổ chức “ăn bám” nào lớn như Đảng Cộng Sản VN.
-“Vô địch!”
*Trên thế giới này từ tối cổ đến cận kim, từ Đông sang Tây không có một chính quyền nào cai trị dân lưu manh như chính quyền của Đảng Cộng Sản VN.
*Trên thế giới này cũng không có một nhà nước nào lại xem thường “Hiến Pháp” do chính mình đặt ra như nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN.

Đảng Cộng Sản VN là một tổ chức “ăn bám”, lớn vô địch trên thế giới. Ở các nước tự do, ngân sách quốc gia, một phần dành cho việc trả lương các công chức, viên chức của chính phủ hàng tháng, ngoài ra chính phủ không phải trả lương cho viên chức của bất cứ một đảng phái nào nằm ngoài hệ thống hành chánh. Ở Việt Nam, một trong những nước nghèo nhất trên thế giới xếp hạng 108 trước 152, nhưng ngân sách dành cho việc trả lương cho viên chức lại phải chia. Một cho viên chức nhà nước, một cho viên chức của Đảng: Bên nhà nước có Chủ Tịch Nhà Nước, và các bộ trưởng, thì bên Đảng Cộng Sản có Tổng Bí Thư, và một lô các Ủy viên Bộ chính trị, nhiều hơn gấp bội. Và bên nhà nước có cơ quan nào thì bên đảng cũng có cơ quan ấy. Chẳng hạn như bên nhà nước có Bộ trưởng Bộ thương mại, thì bên Đảng có Ban Kinh Tế Trung Ương. Bên nhà nước có Bộ ngoại giao, thì bên Đảng có Ban Đối Ngoại Trung Ương Đảng v.v... Bên nhà nước ở cấp dưới, có các Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh, thành, quận, huyện, xã, thì bên Đảng, có Tỉnh Bộ Đảng, thành Bộ Đảng, Huyện, Xã... Khi đem đối chiếu và xem xét kỹ, thì sự thực bên Đảng còn có nhiều ban ngành, cục, bộ hơn hẳn bên chính quyền. Thí dụ như bên nhà nước có Bộ Nội vụ, thì bên Đảng thời họ Hồ, có
1- Ban tổ chức Trung ương Đảng, Lê đức Thọ làm Trưởng ban,
2 - Ban kiểm tra Trung ương Đảng, Trần Quyết làm Trưởng ban.
3 – Ban nội chính Trung ương Đảng do Hoàng Thao làm trưởng ban.
4 – Ban bảo vệ Bộ chính trị do Nguyễn Đình Hương làm trưởng ban.
5 – Ban chỉ đạo Trung ương Đảng do Nguyễn Đức Tâm làm Trưởng ban.
6 – Ban bảo vệ Đảng do Nguyễn Trung Thành làm trưởng ban v.v...

Ngoài những ban bộ tạm kể trên, Đảng Cộng Sản VN còn có nhiều tổ chức tay phải, tay trái như Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Ban Tôn Giáo Trung Ương v.v... Các Ban, các ngành, các cục, đến các đoàn thể, tay phải, tay trái như Đảng đều có trụ sở, xe cộ, nhân viên được tổ chức từ trung ương đến các địa phương, phường, xã. Con số đảng viên hiện nay là khoảng 2.3 triệu, không kể đến các đoàn viên, các đoàn thể quần chúng.

Từ trước đến nay, bao giờ các cơ quan của Đảng Cộng Sản ở Trung ương và các địa phương có nhiều nhân viên hơn hẳn bên chính quyền. Các lực lượng ăn bám này đều có trụ sở được xây dựng to lớn, đồ sộ, lộng lẫy, xe cộ đi lại của cán bộ Đảng thuộc loại sang. Các thiết bị văn phòng, chi phí cho nhân viên từ trung ương đến các địa phương đều do tiền thuế của nhân dân chi dùng cho hoạt động riêng của đảng. Nhưng Đảng Cộng Sản VN tự nó không bao giờ có hoạt động sản xuất, hoặc phát minh, sáng chế gì, có lợi cho đời sống. Họ chỉ là những kẻ ăn bám! Nguy hiểm hơn nữa là họ còn nghĩ ra những thủ đoạn đê hèn, những việc làm ác độc đối với nhân dân, toàn học tập bắt chước những việc làm tàn bạo phi nhân của Cộng Sản Tầu.
Còn có quá nhiều những điều quái dị và nghịch lý, trái đạo lý, khá độc đáo, mà các chính khách nước ngoài dù thông minh đến đâu cũng không thể hiểu nổi. Trong một đất nước mà toàn bộ sở hữu quốc gia hoàn toàn Đảng Cộng Sản bao hết và nắm độc quyền hết cả các hoạt động xã hội. Từ trung ương đến địa phương đều có các Chi Bộ Ðảng, các cấp đến các cơ sở hạ tầng. Các tổ chức Đảng kiểm soát bộ máy nhà nước, rút tiền trực tiếp từ ngân hàng nhà nước ở các cấp... Nó ban phát quyền lợi cho các nhân viên nhà nước, duyệt chi các công trình xây dựng, cấp vốn, cấp tiền cho mọi dự án. Tất cả việc chi thu đều do Đảng Bộ quyết định.

Nên biết rằng trước năm 1991, ở Việt Nam hệ thống ngân hàng nhà nước do Đảng Cộng Sản quản lý như một cơ chế ngân khố tập trung việc chi thu. Nó có toàn quyền, nó làm chủ 100%. Hiện nay, có thấy đề ra vấn đề cho phép lập ra các ngân hàng cổ phần theo kinh tế thị trường, tuy nhiên loại này rất nhỏ yếu. Ngân hàng nhà nước là tài sản của đảng Cộng Sản VN và vẫn chiếm ưu thế cao trên 70%.

Đảng Cộng Sản VN đã hút tất cả nguồn lợi của đất nước vào trong tay Đảng. Nhân dân Việt Nam từ ngày Đảng Cộng Sản VN cướp chính quyền, từ khi Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 đến nay, không một ai được biết ngân sách quốc gia hàng năm, thu chi bao nhiêu? Không biết những khoản viện trợ của nước ngoài là bao nhiêu? Vay để dùng vào việc gì? Cũng không hề biết các hiệp định ký kết với nước ngoài, nội dung ra sao? Và tuyệt nhiên không có hạng mục thống kê công khai. Mặc dù họ được Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản phong cho làm “chủ nhân ông” của đất nước này!!

Nhân dân Việt Nam, không chỉ buộc phải nuôi một tổ chức du côn, lưu manh ăn bám, mà chúng còn phá phách đủ mọi thứ, từ văn hóa, văn hiến, đến tài nguyên đất nước không thể kể xiết. Hiện tại, những dự án đầu tư xây dựng thất thoát, lãng phí đến 40%, tính riêng năm 2006. Nhiều công trình bị “rút ruột” đến mức mới xây dựng xong đã hư hỏng không xử dụng được. Một đại biểu quốc hội nói rằng “tiền thất thoát trong lãnh vực xây dựng cơ bản hàng năm đủ trả lương cho toàn bộ công nhân viên chức nhà nước.” Bọn cán bộ đảng, ngoài tiền lương chúng tham nhũng, biển thủ công quỹ vô tội vạ. Vì thế, chúng mới có tiền mua nhà lầu xe hơi, gởi con cái ra ngoại quốc ăn học v.v...

Các tổ chức Đảng giống như con bạch tuộc khổng lồ đã và đang găm thật chặt những cái vòi của nó vào từng tế bào nhỏ nhất của xã hội, len lỏi vào từng thớ thịt, găm vào từng mạch máu, để hút máu, hút tủy và khống chế trói chặt người dân bằng hàng trăm sợi dây, thao túng nhân dân, rút kiệt hết nguồn tài nguyên của đất nước, cho nên nhân dân ta mới nghèo khổ lam lũ đến thế!

Nhân dân Việt Nam từ khi Hồ Chí Minh và đồng đảng nắm chính quyền cho đến ngày nay, đã phải cõng trên lưng không phải chỉ những quan chức bù nhìn nhà nước mà còn các quan chức, viên chức của Đảng này với số lượng lớn hơn. Nó thực sự là những con quái vật độc ác và tham tàn, muốn sống nhân dân Việt Nam chỉ còn cách phải quật chúng xuống.

Con quái vật độc ác này, nó sống trên xương máu, mồ hôi của nhân dân Việt Nam quá lâu! Nó là một con vật lạ “ngoại lệ” trong dòng lịch sử trên 4000 năm của dân tộc. Con quái vật phá phách... ăn bám còn có một đặc điểm rất điếm đàng. Nó bắt “chủ nhân ông đất nước” phải cung phụng cho nó, mọi thứ về vật chất, nhưng lại phải mang ơn nó. Chủ nhân ông phải xin xỏ nó mới có mà ăn, mà mặc. Ở miền Bắc trước đây cứ mở miệng ra là phải nói: “cơm cụ Hồ”, “áo cụ Hồ”, “muối cụ Hồ”, bộ đội cụ Hồ, biết ơn Bác và Đảng v.v... Đồ đểu! Không có ngôn từ nào thích hợp để mô tả bản tính điếm đàng này. Tàn bạo, tham lam, và lưu manh của Đảng Cộng Sản VN đứng đầu là Hồ Chí Minh.

Vì là “vô thần”, nó không sợ trời trừng phạt, và vì nắm quyền hành độc tài toàn trị, nó không sợ bị luật pháp ràng buộc khi nó hành động với bản tính côn đồ, lưu manh, bịp bợm và bạo ngược của nó, mà không có ai có thể kiểm soát được. Đảng Cộng Sản VN tự biên, tự diễn, tự do giết người, tự do bỏ tù, tự do trấn lột, tự do tuyên truyền, nói láo!

Hơn nửa thế kỷ qua, nó hoàn toàn không bị kềm chế về mặt pháp luật và đạo đức. Hồ Chí Minh và đồng đảng của y đã gây ra không biết bao nhiêu là tội ác đối với nhân dân Việt Nam, nhất là đối với nhân dân miền Bắc. Họ sẽ phải trả lời về các tội ác của họ như các Quốc gia Đông Âu đã làm.

Trần Nhu

VIỆT NAM:
VÙNG TRỜI ĐAU THƯƠNG
VÀ UẤT HẬN

Em trót sinh ra sau ngày "giải phóng"
Và lớn lên khi đất nước "thanh bình"
Nhưng cuộc đời sao vất vả điêu linh
Mẹ buôn gánh bán bưng nuôi con dại

Em đi học, qua đồng khô cỏ cháy
Trời quê hương bàng bạc áng mây buồn
Đường chiều về leo lét ánh tà buông:
- "Con đói quá, mẹ ơi trời sắp tối !"

Sáng đi học bụng em còn thấy đói
Cô dạy em phải yêu kính "bác" Hồ
Em hỏi : - " 'bác' là ai vậy, hở Cô ?"
Cô bảo:-"Nhờ 'bác', đảng ta 'CHIẾN THẮNG ' !"

Em không hiểu, nhưng cúi đầu im lặng
Mà trong lòng thắc mắc mãi không thôi
"CHIẾN THẮNG" gì ? Sao khổ qúa đời tôi,
Nhà, họ lấy, phải đi vùng kinh tế!

Ba mươi năm, lớn lên đời vẫn thế :
Trời quê hương còn đó áng mây buồn
Vẫn từng ngày, vẫn kiếp sống đau thương
Em thay mẹ : Đời bán bưng buôn gánh !

Em tự hỏi nếu đảng không "CHIẾN THẮNG"
Nước Việt Nam có chậm tiến thế nầy ?
Người dân hiền đâu ngậm đắng nuốt cay
Bị "xuất khẩu" sang xứ người lao dịch !

Em thầm hỏi : "Ai đây là kẻ địch?"
"Mỹ, Ngụy", "bác" Hồ, hay cộng đảng ta ?
"Ngụy" bây giờ là "khúc ruột phương xa"
Mỹ là thầy, là ân nhân kinh tế !

Nước Việt thụt lùi bao thế hệ
Từ môi sinh cho đến đạo làm người:
Chính phủ chỉ là một lũ đười ươi
Bọn ích kỷ, phường buôn dân bán nước!

Xã hội xuống dốc nhanh không tưởng được
Quan bạo tàn, tham nhũng đến vô lương
Chuyên hối lộ, cướp nhà, chiếm hết ruộng nương
Dân thấp cổ kêu trời cao chẳng thấu !

Đảng của "bác" biến nước ta lạc hậu
Dân Việt Nam nghèo nhất cõi năm châu
Những huy hoàng ngày cũ nay còn đâu
Phụ nữ Việt bán thân ngoài muôn dặm !

Ôi tổ quốc, ôi quê hương nhung gấm
Hỡi địa linh, nhân kiệt hãy vùng lên !
Giành TỰ DO, DÂN CHỦ với NHÂN QUYỀN
Quyết đập đổ NỘI THÙ: phường cộng sản

Hết cộng nô, trời Việt Nam lại sáng
Đàn con Hồng cháu Lạc đứng cao lên
Xây đấp non sông, bờ cõi vững bền
Đó là lúc toàn dân ta CHIẾN THẮNG !

Hương Sài-Gòn

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2009

KHÔNG SỬ DỤNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC


Thực hành lời kêu gọi "Không dùng hàng hoá Trung Quốc
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d'Information Bouddhiste

Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

B.P. 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) -
Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 -
E-mail : ubcv.ibib@buddhist.com
Web : http://www.queme.net

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 16.11.2009

Thượng toạ Thích Thanh Quangvà Huynh trưởng Lê Công Cầu nhân danh Tổng vụ Thanh niên và Gia Đình Phật tử Vụ kêu gọi Huynh trưởng các cấp và Thanh niên, Sinh viên, Học sinh Phật tử tẩy chay hàng hoá Trung Cộng.

PARIS, ngày 16.11.2009 (PTTPGQT) -
Thượng tọa Thích Thanh Quang, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên, Viện Hoá Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, cùng Huynh trưởng Lê Công Cầu, Vụ trưởng Gia Đình Phật tử Vụ đã ký tên chung bản Tuyên Cáo kêu gọi thực hành Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Hoá Trung Quốc của Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống kiêm Viện trưởng Viện Hoá Đạo.

Bản Tuyên cáo được gửi đến các Ban Hướng dẫn Gia Đình Phật tử các cấp trong và ngoài nước, đồng thời gửi đến anh chị em Thanh niên, Sinh viên và Học sinh Việt Nam.


Là những người sống trong nước, chịu sức ép nghìn cân từ nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội đến sức ép xâm lăng của Bắc Kinh, nên những nguy cơ trên các lĩnh vực quốc phòng, văn hoá, giáo dục, xã hội, kinh tế được phân tích cặn kẽ. Đọc xong không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước hai nạn Nội xâm và Ngoại xâm đang hoành hành nước Việt.
Xin mời quý bạn đọc tham cứu toàn văn Tuyên cáo ký ngày 12.11.2009 sau đây:

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HOÁ ĐẠO
TỔNG VỤ THANH NIÊN
GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VỤ
VP: Chùa Giác Minh - K356/42 Đường Hoàng Diệu - Thành Phố Đà Nẵng
—Φ—

TUYÊN CÁO
TỔNG VỤ TRƯỞNG TỔNG VỤ THANH NIÊN VHĐ/GHPGVNTN
& VỤ TRƯỞNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VỤ GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAM

KÍNH GỞI:
- Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Các Cấp
- Anh Chị Em Huynh Trưởng Các Cấp Quốc Nội và Hải Ngoại

ĐỒNG KÍNH GỞI:
Anh Chị Em Thanh Niên, Sinh Viên và Học Sinh Phật Tử Việt Nam.
TRÍCH YẾU:
THỰC HÀNH LỜI KÊU GỌI CỦA HÒA THƯỢNG XỬ LÝ THƯỜNG VỤ VIỆN TĂNG THỐNG KIÊM VIỆN TRƯỞNG VIỆN HÓA ĐẠO - GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT :“ KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC”

I/.NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT:
- Năm 1958, Ông Phạm Văn Đồng thay mặt Đảng Cộng Sản Việt Nam, ký công hàm bán nước, thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng. Công hàm nầy đã tạo điều kiện cho Trung Cộng xâm lăng lâu dài Tổ Quốc Việt Nam.

- Đến nay với sự đồng lõa và tiếp tay của các thế hệ Lãnh Đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam , việc xâm lăng toàn diện của Trung Cộng đã diễn ra khốc liệt trên mọi mặt trận của Dân Tộc:

1/. Mặt trận chính trị: Sau khi thành trì Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Sô và Đông Âu sụp đổ, Đảng Cộng Sản Việt Nam trở lại thần phục Đảng Cộng Sản Trung Quốc, xem Trung Cộng như là một cái phao cứu sinh. Tất cả mô hình chính trị của Viêt Nam hoàn toàn rập khuôn theo mẫu Trung quốc. Mô hình chính trị ấy đã áp đặt lên Dân Tộc Việt Nam một chế độ độc tài toàn trị, người dân đã bị tước đoạt hoàn toàn mọi quyền tự do.

2/. Mặt trận quốc phòng: Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tước đoạt nền quốc phòng toàn dân, biến Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thành một đội quân riêng của Đảng. Dướí danh nghĩa “ trung với Đảng, hiếu với Dân”, nhưng thật sự quân đội chỉ “trung với Đảng”, lo bảo vệ Đảng mà thôi. Đảng dâng đất, dâng biển, dâng các cứ điểm trọng yếu cho Trung Cộng, quân đội vẫn im lặng, không hề có một phản ứng tích cực nào để bảo vệ Tổ Quốc. Còn tinh thần “hiếu với dân” thì đã bị Đảng xóa sổ. Theo lệnh Đảng, quân đội đã án binh bất động, để mặc cho lính Trung Cộng bắn giết, bắt người, cướp tài sản, đòi tiền chuộc ngay trên hải phận của Tổ Quốc mà quân đội đang có trách nhiệm trấn giữ.

3/. Mặt trận văn hóa: Thể hiện sự nô lệ Bắc Kinh bằng văn hóa, Đảng Cộng Sản nghiêm cấm tất cả sách báo, truyền thanh, truyền hình Việt Nam không được xúc phạm đến Trung Cộng. Ngược lại Đảng đã cho phép các nhà xuất bản, các nhà sách của Việt Nam đua nhau trích dịch, in ấn, phổ biến các tác phẩm ca ngợi Trung Cộng mà điển hình nhất là quyển sách “Ma Chiến Hữu” của Mạc Ngôn đề cao người lính Trung Cộng đã cướp đất, tàn phá làng mạc, giết hại hơn 50 ngàn quân dân cán chính Việt Nam trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Một trang web của bộ Công Thương đã mặc nhiên để cho Trung Cộng điều hành, tuyên truyền chủ nghĩa bành trướng bá quyền Bắc Kinh. Gần đây nhất là tờ báo điện tử của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác nhận Hoàng Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc khi mô tả cuộc diễn tập trên biển đảo Hoàng Sa là cuộc diễn tập bảo vệ biên cương Tổ Quốc của Trung Cộng. Cho dù Đảng đã phạt Tổng Biên Tập của tờ báo 30 triệu đồng nhưng không thể cứu vãn danh dự của Đảng trước bản án khôi hài cho kẻ bán nước.

4/. Mặt trận giáo dục: Với chủ trương Hồng hơn Chuyên, nền giáo dục Cộng Sản cốt cho con người thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lê Nin, trong đó hận thù và đấu tranh giai cấp là chủ đạo. Tuy nhiên đối với đàn anh Phương Bắc, Đảng chủ trương không những xóa bỏ hận thù mà còn phải biết ơn, phải tôn trọng, vì thế ngoài việc cho phát hành sách vở, báo chí đề cao Trung Quốc, Đảng đã cho các đài truyền hình từ trung ương cho đến địa phương đua nhau quảng bá phim ảnh Trung Cộng, nhất là các phim lịch sử. Qua các phim nầy, những nhân vật, những triều đại Trung Quốc đã từng xâm lược Việt Nam, gây chết chóc điêu linh cho dân tộc, tang thương cho đất nước đều trở thành các vị anh hùng, nhân từ, đức độ. Ngược lại Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam không hề đầu tư vào những phim ảnh lịch sử để nêu cao những tấm gương anh hùng dân tộc, những cuộc kháng chiến oai hùng giành lại đất nước từ tay kẻ thù. Đây là một chính sách nhồi sọ thanh thiếu nhi Việt Nam nhằm tước đoạt tinh thần tự hào dân tộc của tuổi trẻ, đưa tuổi trẻ đi vào con đường thần phục Bắc Phương.

5/. Mặt trận xã hội: Đảng Cộng Sản đã dành toàn quyền cho người Trung Quốc vào Việt Nam không cần hộ chiếu, người Trung Quốc đã lợi dụng tình thế, lũng đoạn nhiều danh nghiệp, nhiều tổ chức kinh tế nhằm quấy rối xã hội Việt Nam. Đảng Cộng Sản lại tạo điều kiện cho các nhà thầu Trung Quốc thắng thầu hầu hết mọi công trình quan trọng của đất nước, rước Trung Quốc vào khai thác bô xít Tây Nguyên bất chấp sự phản đối của toàn dân. Trung Cộng đã đưa hàng vạn công nhân Trung Quốc vào các công trình quan trọng nầy, tạo tiền đề cho những xóm làng Trung Quốc mọc lên. Khi không có chiến tranh, các xóm làng nầy sẽ phát triển theo kế hoạch vết dầu loan để Hán hóa dần dần người Việt. Khi chiến tranh xẩy ra, hàng ngũ công nhân nầy là đội quân tiên phong của Trung Cộng, các xóm làng của họ trở thành những pháo đài án ngữ trên các trọng điểm của Tổ Quốc, xã hội Việt Nam sẽ biến thành xã hội nô lệ vô phương cứu vãn.

6/. Mặt trận kinh tế: Đây là mặt trận khốc liệt nhất, diễn ra dưới 3 mũi giáp công của Trung Cộng, với sự đồng lõa của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhanh chóng đưa Dân Tộc Việt Nam vào vòng Hán hóa.

a/.Mũi thứ nhất là đánh vào ngư dân:
- Trước hết, Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa sau đó ngang ngược vạch bản đồ hình lưỡi bò để liếm hầu hết toàn bộ lãnh hải Việt Nam trên biển đông.
- Sau khi chiếm hết lãnh hải Việt Nam, Trung Cộng ngang nhiên bắn giết, bắt bớ, cướp bóc, giam giữ ngư dân để đòi tiền chuộc. Ngay cả khi ngư dân chạy nạn, tránh cơn bão số 9 vừa qua chúng cũng thẳng thừng bắn giết, cướp bóc như một bọn hải tặc.
- Trung Cộng lại ngang ngược ra lệnh cấm đánh bắt cá nam trong 3 tháng vụ mùa, để cướp tài nguyên trên biển. Ngư dân không còn biển để làm ăn đành neo tàu chịu đói.

b/. Mũi thứ nhì là đánh vào nông dân:
- Với chủ trương, đất đai do nhà nước quản lý, Đảng đã thẳng tay thu hồi ruộng vườn nhà cửa của nông dân để phục vụ các tập đoàn, các doanh nghiệp tư bản, gây nên cảnh dân oan khiếu kiện khắp mọi miền đất nước.
- Với chủ trương lớn của Đảng, bất chấp sự phản đối của toàn dân, Đảng đã rước Trung Quốc vào khai thác bô-xít Tây Nguyên, khai thác khoáng sản bừa bãi tại các địa phương, môi trường sẽ bị tàn phá, người nông dân địa phương sẽ lâm vào cảnh khốn cùng.

c/. Mũi thứ ba là đánh vào công nhân:
- Trước tình trạng tụt hậu, đói nghèo của đất nước, người công nhân Việt Nam buộc phải chấp nhận đồng lương rẽ mạt để nuôi sống bản thân, nhưng vẫn thường xuyên bị giới chủ bóc lột, hành hạ. Bao nhiêu cuộc đình công đã diễn ra nhưng cuối cùng thiệt thòi vẫn do người công nhân gánh chịu vì nhà nước luôn đứng về phía chủ đầu tư.
- Hàng hóa giá rẻ của Trung Cộng tràn ngập thị trường, đánh sập các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất của Việt Nam, tình trạng người công nhân đã bị bóc lột nay càng thêm khốn đốn. Nền kính tế quốc dân vốn đã yếu kém nay đã đứng trên bờ phá sản vì hàng giá rẻ của Trung Cộng đang khống chế thị trường.

II/. THÁI ĐỘ CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT:
Đối diện với tình trạng luân hiểm của Dân Tộc Việt Nam nêu trên, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quãng Độ, người lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thông Nhất - Giáo Hội truyền thừa của Lịch Đại Tổ Sư - đã thốt lên rằng:
“Người dân Việt không có các tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, cũng không có chính quyền hay quân đội để trực tiếp và mạnh mẽ phản chống nạn xâm lăng quân sự, xâm lăng tư tưởng và xâm lăng kinh tế. Vũ khí của người dân bị trị ngày nay là THÁI ĐỘ. Chúng ta cần biểu tỏ qua THÁI ĐỘ để chống hai quốc nạn Nội xâm và Ngoại xâm ”
- Với quan điểm ấy, đứng trước chính sách độc tài toàn trị, chà đạp nhân quyền, phủ nhận tự do dân chủ của Đảng Cộng Sản Việt Nam, suốt 34 năm qua Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, không ngừng bày tỏ thái độ bằng các văn kiện lịch sử để đòi hỏi Đảng Cộng Sản phải thực thi một nền độc lập, tự do và dân chủ thật sự cho Dân Tộc Việt Nam.
- Với quan điểm ấy, đứng trước hành động bá quyền của Trung Cộng đã ngang ngược lấn chiếm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như đất đai biên giới, GHPGVNTN đã bày tỏ thái độ bằng Tuyên Cáo Của Hội Đồng Lưỡng Viện do Đại Lão Hòa Thượng Thích Quãng Độ-Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN thừa ủy nhiệm Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang ấn ký ngày 27.12.2007 lên án Trung Cộng xâm lược và lên án Việt Cộng bán nước.
- Với quan điểm ấy, đứng trước chủ trương lớn của Đảng, rước Trung Cộng vào khai thác bô xít Tây Nguyên, tạo điều kiện cho đội quân Trung Cộng án ngữ nơi yết hầu của Tổ Quốc và hủy diệt màu xanh Tây Nguyên, gieo thảm họa quốc phòng và môi sinh cho Dân Tộc. Hòa Thượng Thích Quảng Độ - Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN đã ban hành LỜI KÊU GỌI THÁNG NĂM BẤT TUÂN DÂN SỰ VÀ BIỂU TÌNH TẠI GIA bày tỏ thái độ của GHPGVNTN cương quyết phản đối sự cấu kết giữa hai Đảng Cộng Sản nhằm đưa Dân Tộc Việt Nam vào vòng nô lệ Trung Cộng.
- Với quan điểm ấy, đứng trước vấn đề sinh tử của Dân Tộc hiện nay do việc hàng hóa giá rẻ và độc hại của Trung Cộng ồ ạt tràn vào Việt Nam, GHPGVNTN biểu tỏ thái độ qua Lời Kêu Gọi KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC của Hòa Thượng Xử Lý Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN ban hành ngày 03.10.2009 nhằm lên án Trung Cộng với sự tiếp tay của Việt Cộng, dùng hàng giá rẻ để xâm lăng kinh tế Việt Nam, dùng hàng độc hại để tiêu diệt sinh lực Dân Tộc Việt Nam.

III/. LỜI KÊU GỌI “KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC” LÀ VẤN ĐỀ SINH TỬ CỦA DÂN TỘC.

1/. Ý nghĩa Lời Kêu Gọi:
Ngày 03.10.2009, Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Hóa Trung Quốc do Đại Lão Hòa Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo ấn ký và ban hành.
Ngày 05.10.2009, Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế đã phổ biến rộng rãi để cho toàn dân trong và ngoài nước tiếp cận ý nghĩa của Lời Kêu Gọi.
Ý nghĩa ấy đã được minh thị rõ ràng và cương quyết:
…Thái độ cần biểu tỏ hôm nay để Nhà cầm quyền Bắc Kinh thấy rõ ý chí kiên cường của người dân Việt là phát động phong trào không dùng hàng Trung quốc. Không dùng hàng Trung quốc không phải là biểu tỏ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi chống nhân dân Trung quốc, chống công nhân Trung quốc. Vì nhân dân Trung quốc, công nhân Trung quốc cũng là nạn nhân của Đảng Cộng sản như nhân dân, công nhân và nông dân Việt Nam. Tẩy chay hàng Trung quốc là tẩy chay chủ nghĩa bá quyền xâm lược của Nhà cầm quyền Cộng sản Bắc Kinh. Ngoài lý do chính trị mà tẩy chay, còn lý do hàng xấu và hàng độc Trung quốc đang gây nguy hại cho cơ thể và môi sinh người tiêu dùng Việt Nam.
Và thái độ biểu tỏ đối với Nhà cầm quyền Hà Nội như tôi đã gợi ý trước đây qua “ Lời Kêu Gọi Thàng 5 Bất Tuân Dân Sự - Biểu Tình Tại Gia ”.
Kính mong được đồng bào trong và ngoài nước hưởng ứng kể từ khi đọc Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Trung quốc công bố hôm nay (trích LKG).

2/. Hàng giá rẻ của Trung Cộng là vấn đề sinh tử của Dân Tộc Việt Nam:
“Có thực mới vực được đạo” đó là nguyên lý kinh tế chi phối toàn bộ mọi lãnh vực xã hội. Vì vậy qua ý nghĩa của Lời Kêu Gọi Tẩy Chay Hàng Hóa Trung Quốc đã thể hiện 3 vấn đề sinh tử của Dân Tộc Việt Nam:

- Vấn đề thứ nhất: hàng giá rẻ là phương tiện xâm lăng Việt Nam của Trung Cộng:
Hơn ai hết, Trung Cộng hiểu rất rõ nền kính tế yếu kém của đất nước Việt Nam. Một khi nền kinh tế Việt Nam bị hàng giá rẻ của Trung Cộng đánh sập thì mọi lãnh vực quân sự, quốc phòng, văn hóa, giáo dục sẽ suy sụp theo. Hàng giá rẻ của Trung Cộng sẽ làm kiệt quệ đất nước Việt Nam , Dân Tộc Việt Nam sẽ mất thực lực chiến đấu, việc xâm lăng Việt Nam sẽ được thực hiện nhanh chóng và dễ dàng.
Vậy, tẩy chay hàng hóa Trung Cộng là nghĩa vụ toàn dân góp phần chận đứng chủ nghĩa bá quyền bành trướng của Bắc Kinh.

- Vấn đề thứ hai: hàng giá rẻ là phương tiện tiêu diệt sinh lực Dân Tộc Việt Nam của Trung Cộng:
Để có hàng giá rẻ Trung Cộng đã dùng các hóa chất độc hại (có thứ cực độc) để chế biến từ sữa trẻ em đến thức ăn, áo quần giày dép, đồ chơi và cả vật liệu xây dựng. Đây là một chính sách vô nhân đạo phản chống lại con người, một tội ác diệt chủng trong thời bình nếu đem so sánh với Hitler, Polpot trong thời chiến. Cả thế giới đều lên án hàng hóa Trung Cộng.
Riêng với Dân Tộc Việt Nam, Trung Cộng hiểu rất rõ đại đa số người dân sống trong nghèo khó, do đó khi gặp hàng giá rẻ dù biết là độc hại nhưng người dân vẫn mua để giải quyết nhu cầu hiện tại, ngày sau ra sao thì ra. Lợi dụng tâm lý ấy, Trung Cộng cho hàng giá rẻ và độc hại ồ ạt vào Việt Nam, ngoài việc làm băng hoại nền kinh tế nước nhà, hàng hóa Trung Cộng còn gây ra bệnh tật hiểm nghèo làm tiêu hao sinh lực của Dân Tộc để dễ bề thôn tính Tổ Quốc chúng ta.
Vậy, tẩy chay hàng hóa Trung Cộng là nghĩa vụ toàn dân góp phần bảo vệ sinh mệnh Dân Tộc, tránh di hại cho các thế hệ con cháu tương lai.

- Vấn đề thứ ba: hàng giá rẻ đã tạo điều kiện cho Trung Cộng xúc phạm tinh thần Dân Tộc Việt Nam: Trung Cộng hiểu rất rõ lòng tự hào dân tộc và tinh thần quật khởi của người Việt Nam mà Trung Quốc là đối tượng lịch sử. Qua sự kiện hàng giá rẻ và độc hại của Trung Quốc thâm nhập thị trường Việt Nam ảnh hưởng đến sự an nguy của Đất Nước và Dân Tộc, Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS) đã có cuộc tọa đàm trực tuyến lên án hàng Trung Quốc là “lũ quét”, là “ bất chấp đạo lý kinh doanh hay lương tâm kinh doanh”. Tòa Đại Sứ Trung Cộng tại Hà Nội lập tức cử Ông Hồ Tỏa Cẩm lên giọng nước lớn buộc Đảng Cộng Sản Việt Nam phải “ kiểm điểm công việc nầy, không để việc nầy tổn hại cho dân chúng Trung Quốc, thương nhân Trung Quốc, chính phủ Trung quốc…”
Với thái độ kẻ cả, xúc phạm danh dự cũng như tinh thần Dân Tộc của Việt Nam như thế mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã không phản đối, lại còn tuân thủ bằng cách ra Quyết Định 97 cấm các tổ chức Khoa Học và Công Nghệ không được phản biện về đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng. Quyết Định nầy đưa đến việc các thành viên IDS tự giải thể để bảo toàn danh dự, bất chấp lời hăm dọa truy tố của Ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Vậy, tẩy chay hàng hóa Trung Quốc là góp phần bảo vệ lòng tự hào Dân Tộc, bảo vệ tinh thần bất khuất của Dân Tộc Việt Nam.

IV/. TRÁCH NHIỆM CỦA CHÚNG TA:
Thưa toàn thể Anh Chị Em Huynh Trưởng,
Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Hóa Trung Quốc của Đại Lão Hòa Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã được ban hành.
Hưởng ứng Lời Kêu Gọi là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn thể công dân Việt Nam . Vì vậy Lời Kêu Gọi phải được phổ biến sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt thành phần, sắc tộc hay tín ngưỡng. Đó là trách nhiệm của mỗi Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử chúng ta.

- Trách nhiệm ấy phải được thể hiện trên tinh thần cá nhân: tự thân Huynh Trưởng cương quyết không dùng hàng Trung Quốc, vận động người thân trong gia đình tẩy chay hàng hóa Trung Quốc, và gia đình Huynh Trưởng có trách nhiệm vận động xóm làng hưởng ứng, tạo nên phong trào KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC sâu rộng trong cộng đồng dân tộc.

- Trách nhiệm ấy phải được thực hiện trên tinh thần tập thể: Các Ban Hướng Dẫn, Ban Huynh Trưởng hãy tổ chức cho đoàn sinh các Gia Đình và đạo hữu các Khuôn Hội học tập Lời Kêu Gọi trong giờ sinh hoạt, để mỗi thành viên Gia Đình Phật Tử là một nhân tố tích cực trong việc tẩy chay hàng hóa Trung Cộng. Mỗi thành viên ấy có trách nhiệm phát huy Lời Kêu Gọi trên mọi lãnh vực liên quan như trường học, bạn bè, xóm giềng…để Lời Kêu gọi trở thành hành động cụ thể KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC của mọi người công dân Việt Nam.
Và Thưa Anh Chị Em Thanh Niên, Sinh Viên, Học Sinh Phật Tử,
34 năm qua Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bị trù dập, đọa đày trong vòng vô minh của chế độ, do đó Giáo Hội chưa có thuận duyên để đoàn ngũ hóa Thanh Niên, Sinh Viên, Học Sinh Phật Tử trong khuôn khổ Tổng Vụ Thanh Niên theo tinh thần Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Tuy nhiên qua LỜI KÊU GỌI THÁNG 5 BẤT TUÂN DÂN SỰ-BIỂU TÌNH TẠI GIA của Đại Lão Hòa Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vừa qua, các Anh Chi Em đã tiếp tay với Tổng Vụ Thanh Niên và Gia Đình Phật Tử Vụ phổ biến rộng rãi Lời Kêu Gọi đến các Trường Đại Học, Cao Đẳng và Trung Học trên Toàn Quốc, nhất là tại Huế và Đà Nẳng, gây ý thức toàn dân trước hiểm họa của Dân Tộc do hai Đảng Cộng Sản tạo ra.
Giờ đây, LỜI KÊU GỌI KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC vừa là tiếng chuông cảnh tỉnh toàn dân ý thức bảo vệ đất nước và bảo vệ giống nòi, vừa là bản án tố cáo chủ trương bành trướng bá quyền vô nhân đạo của Cộng Sản Trung Quốc, gieo rắc tai họa không những cho Dân Tộc Việt Nam mà cả Nhân Loại trên hành tinh chúng ta, đồng thời tố cáo Đảng Cộng Sản Viêt Nam đã tíếp tay đắc lực cho Trung Cộng qua việc đàn áp sinh viên, học sinh biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược, bỏ tù các nhà đấu tranh dân chủ, trấn áp những người phản đối bô-xít Tây Nguyên và nhất là để cho hàng hóa độc hại của Trung Cộng tàn phá đất nước cũng như con người Việt Nam.
Với tinh thần đó, mong ước các Anh Chị Em tiếp tục sát cánh cùng Tổng Vụ Thanh Niên và Gia Đình Phật Tử Vụ phổ biến Lời Kêu Gọi TẨY CHAY HÀNG HÓA TRUNG QUỐC của Đại Lão Hòa Thượng Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng VHĐ/GHPGVNTN và Tuyên Cáo nầy đến đồng bào các giới quốc nội và hải ngoại, góp phần giải trừ hai quốc nạn Nội Xâm và Ngoại Xâm đã gieo rắc kinh hoàng lên ngôi nhà Việt Nam trên 6 thập kỷ qua.
TẨY CHAY HÀNG HÓA TRUNG CỘNG LÀ GÓP PHẦN CỨU NGUY ĐẤT NƯƠC, CỨU NGUY GIỐNG NÒI.

NAM MÔ THƯỜNG TINH TẤN BỒ TÁT MA HA TÁT
Phật Lịch 2553, Giác Minh ngày 12 tháng 11 năm 2009
KÝ TÊN
Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên
Viện Hoá Đạo/GHPGVNTN
TỲ KHEO THÍCH THANH QUANG
Vụ trưởng Gia Đình Phật tử Vụ
Gia Đình Phật tử Việt Nam
NGUYÊN CHÁNH LÊ CÔNG CẦU

Bản Sao Kính Trình:
- VP Viện Hoá Đạo GHPGVNTN
đồng thời kính xin VP chuyển trình:
- Hoà thượng Viện trưởng VHĐ/GHPGVNTN
- VP II Viện Hoá Đạo/GHPGVNTN
- Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế (kính xin phổ biến)
- HT Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống GHPGVNTN
- Chư Tôn Cố Vấn Giáo Hạnh GĐPT/VN
- Lưu./.

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2009

LẦN GẶP BÁC HỒ TÔI BỊ MẤT TRINH





Huỳnh Thị Thanh Xuân
Năm 1964, tôi được cơ quan và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cho ra miền Bắc học văn hoá, đi bộ trên 3 tháng vượt Trường Sơn ra Hà Nội. Trường Hành Chính gần Cầu Giấy, Hà Nội là nơi đón tiếp chúng tôi đầu tiên. Năm đó tôi mới 15 tuổi. Bởi vì sống trong vùng tạm chiếm của Mỹ - Diệm nên hiểu biết của tôi về Bác Hồ rất chi là ít ỏi. Tôi đã sớm giác ngộ cách mạng, đã tham gia làm giao liên hợp pháp cho Thành uỷ, Biệt động thành Đà Nẵng và Huyện uỷ Điện Bàn, Đại Lộc. Cho đến khi lên chiến khu, tôi được ba tôi và các chú trong cơ quan dạy bảo thêm về tiểu sử của "Bác Hồ" - nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc ta. Phải lúc bấy giờ " Bác " như là thần thánh trong đầu tôi. Trước khi tôi ra miền Bắc, ba mẹ tôi ôm tôi ngồi trên chõng tre căn dặn : “Con ơi, ra đến miền Bắc nếu được gặp Bác Hồ, con nói ba mẹ và gia đình mình cũng như các cô chú trong cơ quan gởi lời thăm sức khoẻ của Bác. Con phải cố gắng học thật tốt để sau này về phụng sự quê hương nghe con”. Lúc đó tôi chỉ biết im lặng.
Thật là vinh dự biết bao cho bản thân, gia đình và quê hương chúng tôi, tôi có tên trong danh sách gặp Bác Hồ. Đó là lúc 17 giờ ngày 30/08/1964. Sau khi ăn cơm chiều về có lệnh tập trung, bác Tố-Hữu, người phụ trách chung, nói : “Các cháu có danh sách sau đây ở lại cùng với anh Hanh phụ trách đội thiếu niên tiền phong”. Bác Hữu đọc : “… Lập, Lộc, Dung (con bác Nguyễn Hữu Thọ), Đệ, Hoà (Khánh Hoà), Độ, Đâu và Thanh, Kiến (QNĐN)”. Bác Hữu nói : “Các cháu chuẩn bị tư trang, sau 20 phút tập trung lên xe và được đi gặp Bác Hồ”. Nghe vậy, tất cả chúng tôi có tên trong danh sách reo ầm cả lên làm vang dội cả phòng. Trong lòng ai nấy đều phấn khởi chạy về phòng thay áo quần, quàng khăn đỏ, chải đầu tóc gọn gàng rồi chạy xuống cầu thang (lúc đó chúng tôi ở tầng 3 nhà A1 của Trường hành chính Hà Nội). Xuống khỏi cầu thang chúng tôi thấy có 4 xe đậu trước cửa, 2 xe Vônga - 1 xe màu đen, 1 xe màu cà phê sữa - và 2 xe com măng ca màu rêu. Tôi nhanh chân nhảy lên chiếc xe Vônga ở gần cùng với Ba Đen và anh Hanh phụ trách. Đoàn chúng tôi gồm 16 người lên xe đầy đủ. Chiếc xe từ từ lăn bánh rẽ tay trái đến cầu Giấy đi thẳng đường đê Bưởi rồi rẽ phải vào đường Hoàng Hoa Thám, đến đường Hùng Vương chạy từ từ và dừng lại. Một chú công an mở cổng và đoàn chúng tôi đi bộ vào dọc theo con đường rải đá sỏi nhỏ, hai bên trồng nhiều cây cảnh đều và gọn đẹp. Gần đến nhà khách, chúng tôi thấy xuất hiện ông già mặc bộ đồ kaki màu xám với đôi dép cao su đen đang từ từ đi ra nở nụ cười phúc hậu. Bỗng anh Hanh và tất cả chúng tôi reo lên : “Bác Hồ !” rồi thi nhau chạy đến ôm chầm lấy Bác. Chúng tôi tranh nhau ôm chặt lấy Bác, còn Bác thì xoa đầu và vỗ lưng chúng tôi rồi Bác dẫn chúng tôi cùng đi vào nhà và bước lên cầu thang tầng 2. Chúng tôi ríu rít như đàn chim được tụ về tổ ấm. Lên khỏi cầu thang rẽ tay phải đi vào phòng họp mặt, lúc đó chúng tôi và các chú, các bác đi cùng với Bác ngồi vào từng ghế quây quần xung quanh chiếc bàn lớn. Câu đầu tiên Bác nói : “Dân chố gộ có mặt đây không ?” (ý nói vui người dân QNĐN). Bạn Dung ngồi gần chọc nách và nói “có ạ”. Bác nói tiếp : “Dân dưa cải mắm cái có không ?” (ý nói chỉ người địa phương Quảng Ngãi), tất cả chỉ qua phía Ba Đen (người dân tộc Tây Nguyên) Ba-Đen nói “có ạ”. Bác lại nói : “Dân đầu gấu (đầu gối chân) có không ?” (ý nói người quê ở Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận). Tất cả chúng tôi rất khó chịu với sự giả tiếng và hỏi một cách kỳ cục của Bác, Sau đó Bác chỉ qua phía bạn Hoà, rồi Bác nói tiếp : “Các cháu ăn mích chính ích ích thôi nghen” (ý nói quê ở Nam Bộ). Tất cả lại chúng tôi lại không biết Bác nói gì nữa, sao bác dễu dỡ quá vậy, những gì tôi học được về Bác khi còn ở miền Nam hoàn toàn ngược lại khi tôi gặp con ngươì bác thật sự.Bác nói : “Hôm nay là ngày vui mà Bác cháu chúng ta gặp nhau như vậy chúng ta lại hát bài Kết đoàn”. Bác vẫy tay bắt nhịp cùng chúng tôi, hội trường lúc này ngày càng tươi vui náo nhiệt. “Kết đoàn chúng ta là sức mạnh, kết đoàn chúng ta là sắt gang ...”. Khi mà chúng tôi say sưa hát thì bác đi bóp vai những đứa con gaí, tới chổ tôi thì bác không những xoa lưng tôi mà bac còn để cho bàn tay đi xuống hai bờ mông của tôi xoa xoa bóp bóp làm cho tôi thâý rất là khó chịu, nhưng tôi không dám lên tiếng đành đứng yên chịu thôi. Trước mắt chúng tôi là bánh cức chó và kẹo bột cám ngào đường và nước chè xanh mà Bác cho dọn sẵn, Bác nói : “Mời các cháu cùng ăn với các bác cho vui”. Nói xong, Bác giới thiệu với chúng tôi : “Bác là Hồ Chí Minh, còn đây là bác Phạm Văn Đồng, người dưa cải đấy ! Và đây là bác Trường Chinh, bác Võ Nguyên Giáp, bác Lê Thanh Nghị, các bác ở Bộ Chính Trị hôm nay cũng có mặt với các cháu”. Bác đang nói thì thấy một ông già từ từ đi vào, miệng cười, vừa đi vừa vỗ tay, Bác Hồ giới thiệu luôn : “Đây là bác Tôn của các cháu”, cả phòng lại vỗ tay một lần nữa. Bác đi đến từng người trong chúng tôi và ôm hôn mỗi người một cái.
Đến lượt tôi được Bác hôn vào môi tôi một cách say đắm lưỡi của bác còn thò vào miệng tôi ngoáy ngoáy, ngay lập tức tôi nhổm dậy và né khuôn mặt tôi qua một bên. Lúc này tôi muốn nói về tình cảm gia đình tôi, quê hương tôi với Bác nhưng bàn tay của bác không chịu dừng lại sau bờ mông của tôi, còn tôi thì nghẹn ngào và mắc cỡ rôì Bác lướt qua bạn bên cạnh. Tự dưng tôi chảy nước mắt, tôi thấy Bác Hồ này có gì kỳ cục quá không giống như bác hồ mà chúng tôi học được trong miền Nam ... Bác nói : “Bây giờ có cháu nào đứng lên hát cho các chú và các bác ở đây nghe một bài nào ?”. Lúc này các bạn nhìn lẫn nhau vì đột ngột quá và thấy mắc cỡ không ai chuẩn bị kịp. Sau đó, anh Hanh chỉ Dung hát một bài. Bạn Dung hát : “Ngày con mới ra miền Bắc con còn bé xíu như là cái hạt tiêu ...”, hát xong Dung nhận được một tràng vỗ tay khích lệ. Đến bạn Hoà mạnh dạn đứng lên hát bài : “Vui họp mặt. Từ ngàn phương về đây cùng nhau đoàn kết cùng đi tới tương lai ...”, lại một tràng vỗ tay khích lệ nữa vang lên. Sau đó Bác nói : “Bác đại diện các chú ở đây căn dặn các cháu mấy điều. Bác biết các cháu ngồi đây là ở khắp các địa phương của miền Nam, Bác muốn gặp tất cả các cháu cũng như gia đình của các cháu và toàn thể đồng bào miền Nam song điều kiện chưa cho phép, đất nước đang bị chia cắt nhưng các cháu tin tưởng một ngày không xa Tổ Quốc ta được thống nhất, gia đình chúng ta được sum họp, Bác sẽ có điều kiện đi thăm hỏi. Các cháu viết thư hoặc nhắn tin cho gia đình là Bác và các chú ở đây gửi lời thăm gia đình và bạn bè các cháu ở miền Nam”. Một tràng vỗ tay nữa lại vang lên trong không khí trang nghiêm và ấm cúng. Bác Hồ nói tiếp : “Các cháu đã ra đến miền Bắc xã hội chủ nghĩa rồi đấy. Bác mong các cháu ngoan, học giỏi để xứng đáng là cháu ngoan của Bác. Các cháu là những " hạt giống đỏ " của đồng bào miền Nam gửi ra đây học tập cho nên phải làm sao cho xứng đáng với lòng mong mỏi đó. Bác chúc các cháu ngoan, khoẻ, vui và học tập thật giỏi”. Nói xong, Bác Hồ quay qua bên cạnh hỏi : “Các chú có ý kiến chi không ?” (ý hỏi ý kiến các bác trong Bộ Chính trị có mặt lúc đó). Các bác đều không nói thêm và tán thành ý kiến với Bác. Bác nói tiếp : “Bây giờ các cháu xuống dưới xem phim”. Chúng tôi đứng lên và đi xuống với Bác, bạn thì đi cạnh bác Tôn, bạn thì đi cạnh bác Đồng, bác Duẩn, bác Chinh, bác Giáp, bác Nghị ...
Vào phòng chiếu phim ở tầng 1, Bác chiêu đãi bộ phim thiếu nhi miền Nam đánh Mỹ (phim hoạt hình). Lúc đó tự nhiên tôi thấy vinh dự đến lạ kỳ, một niềm vui khó tả, Bác Hồ ngồi cạnh tôi bác ôm chặc tôi, một tay choàng qua vai tôi và xoa xoa lên ngực tôi bộ ngực mớí lớn của một cô gái miền Nam.
Khi đèn phòng bật sáng Bác hỏi về gia đình tôi và cuộc hành trình của tôi đi bộ vượt Trường Sơn hơn 3 tháng như thế nào kể cho Bác nghe. Bác xoa đầu và hôn lên trán tôi hai cái rất lâu, tôi nhớ rất kỹ, tôi kể sơ về hoạt động giao liên của tôi cho Bác nghe và nhớ đến lời căn dặn của ba mẹ tôi cùng các chú trong cơ quan, ba tôi ở chiến khu Đại Lộc QNĐN thế nào. Ngồi một lúc, Bác đi qua bên con Hoa, Con Lan và tôi thâý bàn tay của bác cũng không bao giờ chịu làm biếng.
Hãy nhìn kỷ gương mặt tên Quỷ Ấu Dâm Hồ Tặc
Đêm hôm đó tôi được một chị thư ký của bác nói nhỏ cho tôi biết là tôi hân hạnh được bác muốn cho gặp riêng bác, có những chuyện bác muốn hỏi tôi nhưng vì sáng nay đông quá bác không tiện. Khi tôi cùng chị Nhàng đi tớí chổ Bác ở thì tôi được chị Nhàng dẫn đi tắm rữa sạch sẽ và chị Nhàng nhìn tôi trong đôi mắt u buồn và tội nghiệp. Tôi được chị Nhàng dẫn đi qua môt hành lang, và tới phòng ngủ của bác, chị Nhàng gõ cữa 3 tiếng cánh cửa mở ra, chị Nhàng bảo tôi đi vào và chị xoay lưng bỏ đi. Khi tôi vào, Bác ôm chầm lấy tôi hôn môi tôi, hai tay bác xoa nắn khắp người tôi, Bác bóp 2 bờ ngực nhỏ của tôi, bác bóp mông tôi, bác bồng tôi lên thiều thào vào trong tai tôi :- Để bác cấy hạt giống đỏ cho cháu, cháu mang về miền Nam cho bác nhé.Bác bồng tôi lên gường hai tay bác đè tôi ra và lột áo quần tôi, Bác như một con cọp đói mồi. Sau một hồì kháng cự tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đành nằm xui tay ... Hai hàng lệ một cô gái miền Nam vừa tròng 15 tuổi đã bị bác cướp đi mất cái trong trắng.
Những đêm sau mấy đứa con gái khác cũng được dẫn đi như tôi, tôi biết là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng, nhưng chúng tôi không ai dám nói vớí ai lời nào. Và qua cái chết của con Lành và con Hoà thì những ngày sau đó chúng tôi sống trong hoang mang và sợ sệt không biết là khi nào tới phiên của mình. Cho đến khi thống nhất nước nhà, ba mẹ tôi không còn nữa, đã hy sinh cho độc lập dân tộc song họ hàng tôi vẫn vui lòng bởi vì tôi đã thay mặt gia đình và các cô chú trong cơ quan cũng như bạn bè tôi được vinh dự gặp Bác Hồ. Nhưng có ai biết được rằng sau cái gọi là vinh danh gặp bác hồ là chuyện gì xảy ra đâu. Kể cã chồng tôi khi hỏi tới trinh tiêt' của tôi, tôi cũng không dám nói vì anh ấy là một đảng viên cao cấp là một người lảnh đạo của tỉnh QNDN. Tôi chỉ nói là khi đi công tác tôi bị bọn ngụy quân bắt tôi và hảm hiếp tôi, chứ làm sao tôi dám nói tôi bị hảm hiếp lúc mơí 15 tuổỉ và bị hảm hiếp ngay phủ chủ tịch và chính là " Bác hồ " hảm hiếp tôi cho chồng tôi nghe. Bây giờ ngồi đây tự điểm mặt lại trong số chúng tôi được vinh dự gặp Bác Hồ hơn 40 năm trước đây, chúng tôi đều trưởng thành, ngôì ngậm nguì nhớ laị những đứa bỏ xác laị trong phủ chủ tịch và không bao giờ về lại được miền Nam. Tự nghĩ lại, chúng tôi thấy rất thấm thía lời Bác Hồ đã dạy : “Bác sẽ cấy những hạt giống đỏ của của bác cho đồng bào miền Nam”.

Huỳnh Thị Thanh Xuân
Quãng Nam - Đà Nẵng 02/09/2009

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2009

DANH SÁCH CÁN BỘ CSVN CÓ TÀI SẢN BẠC TRIỆU TRỞ LÊN



Can Thiệp Nội Bộ
Trung Điền

Các bài liên hệ:
Bao lâu CSVN còn nắm chính quyền: Đất nước còn nguy cơ bị mất vào tay Trung Cộng
Chỉ là 16 chữ vàng… giả!
Muốn Bảo Vệ Lãnh Thổ: Dân Tộc Việt Nam Phải Vùng Lên
Cùng tác giả:
Tại Sao Việt Cộng Chụp Mũ Việt Tân Là Khủng Bố?
Mặt Trận Tổ Quốc và Dân Chủ Hóa Việt Nam
Tham Vọng Khống Chế Biển Đông Của Trung Quốc
****
Ngày 15 tháng 6 năm 2009, ông Kelly, Phát ngôn nhân Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã lên tiếng trong một bản thông cáo báo chí nói rằng chính quyền Hoa Kỳ phản đối nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã bắt giữ Luật sư Lê Công Định vào sáng ngày 13 tháng 6 về tội tuyên truyền chống phá nhà nước (điều 88 Luật hình sự) và đòi Cộng sản Việt Nam phải thả Luật sư Định vô điều kiện. Sự lên tiếng phản đối một cách nhanh chóng của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã khiến cho bộ máy công an Cộng sản Việt Nam tức giận. Bộ công an đã một mặt mời bà Phó đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội đến giải thích về lý do vì sao bắt Luật sư Lê Công Định, mặt khác, áp lực Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam phải lên tiếng phản đối. Ngày 25 tháng 6, bà Nguyễn Phương Nga, Phó vụ trưởng Vụ thông tin báo chí, Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam đã phát biểu rằng: “Sự việc Hoa Kỳ yêu cầu thả Luật sư Lê Công Định vô điều kiện là không có cơ sở, là can thiệp vào nội bộ của Việt Nam, đi ngược lại cam kết của phía Mỹ được nêu lên trong tuyên bố chung giữa hai nước là Mỹ tôn trọng chủ quyền quốc gia, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”.
Bộ ngoại giao Hoa Kỳ chỉ lên tiếng chống vụ bắt giữ Luật sư Lê Công Định mà Cộng sản Việt Nam đã dùng những từ ngữ cáo buộc to lớn, nào là can thiệp nội bộ, vi phạm cam kết giữa hai bên, không tôn trọng chủ quyền, để phản bác lại sự lên tiếng của Hoa Kỳ. Luận điệu hàm hồ, nhàm chán này đã luôn luôn được Cộng sản Việt Nam và những chế độ độc tài chuyên chế trên toàn thế giới nhai đi nhai lại để chống chế cho những hành vi đàn áp phi nhân và lạc hậu của họ, một luận điệu vừa phi lý vừa sai trái.
Thứ nhất, các quốc gia sống trong thế giới ngày nay không phải là những ốc đảo riêng lẻ mà có những quan hệ trên nhiều lãnh vực; trong đó những lên tiếng can thiệp, ngăn chận các hành vi bạo lực của một chính quyền lên người dân là nghĩa vụ chung của mọi quốc gia khi ký tên chấp nhận bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng như các văn kiện liên quan đến chống tội diệt chủng, chống tội phạm chiến tranh, chống đàn áp và kỳ thị chủng tộc, chống phân biệt đối xử vì khác biệt chính kiến… Đây là nghĩa vụ và bổn phận của những thành viên trong cộng đồng thế giới muốn thụ hưởng những ưu đãi trong cộng đồng thì bắt buộc phải thực thi một số những yêu cầu, tôn trọng những nguyên tắc chung.
Thứ hai, việc Hoa Kỳ lên tiếng phản đối Cộng sản Việt Nam núp sau điều 88 (tuyên truyền chống phá nhà nước) của bộ Luật hình sự để bắt giữ Luật sự Lê Công Định là một cảnh cáo các hành vi đàn áp nhân quyền của Cộng sản Việt Nam trước công luận quốc tế. Đây là việc làm công đạo của một quốc gia văn minh khi cổ võ cho những tiếng nói chống lại các hành vi sai trái của chính quyền sở tại bằng đưòng lối ôn hòa, bất bạo động.
Sự lên tiếng của Bộ ngoại Hoa Kỳ về trường hợp Luật sư Lê Công Định không những không can thiệp vào nội bộ Cộng sản Việt Nam mà còn rất cần thiết để cảnh báo dư luận quốc tế về bản chất bạo lực đối với người dân của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam.
Điều trớ trêu là Cộng sản Việt Nam chỉ mạnh miệng tố cáo Hoa Kỳ can thiệp nội chính, trong khi hoàn toàn im lặng về các hành động bá quyền của Trung Quốc trên biển Đông và mới đây nhất là thái độ trịch thượng của Hồ Tỏa Cẩm, tham tán Thương mại tòa đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội, đã phê phán VietNamNet, một diễn đàn điện tử của Bộ Thông Tin và Truyền Thông Cộng sản Việt Nam là đã có những ngôn luận không hữu nghị với Trung Quốc. Lý do là VietNamNet đã loan tải một cuộc nói chuyện trực tuyến giữa một số chuyên gia kinh tế bàn về giải pháp với hàng Trung Quốc có chất lượng thấp tại Việt Nam. Tại sao người Việt Nam lại không có quyền phê phán những mặt hàng xấu nhập nội để hướng dẫn người tiêu thụ của mình không bị hố? Việc Hồ Tỏa Cẩm lên tiếng phê phán một bộ phận của Bộ Thông Tin và Truyền Thông cho thấy là mối quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh có vấn đề:
Thứ nhất là Hồ Tỏa Cẩm đã cho rằng tờ VietNamNet chưa làm đúng thỏa thuận giữa hai nước, tức là chỉ được tuyên truyền bốc thơm lẫn nhau mà không được bới móc những cái xấu. Chính sự ràng buộc này mà báo chí ở trong nước đã không dám viết những gì đụng đến cái xấu của Trung Quốc từ hàng hóa, công nhân cho đến những cách đối xử tệ của người Trung Quốc đối với người Việt Nam.
Thứ hai là Hồ Tỏa Cẩm đã ba lần đòi hỏi Bộ thông tin và truyền thông Cộng sản Việt Nam phải ra chỉ thị khuyến cáo, nhắc nhở, cảnh thị không chỉ đối với VietNamNet mà với tất cả báo chí, cơ quan truyền thông. Với tư cách là một tham tán, tức là một thư ký của Tòa Đại Sứ, Hồ Tỏa Cẩm đã ra lệnh cho Bộ Thông tin và truyền thông phải như thế này thế kia cho thấy vị thế của Bắc Kinh ở đâu so với Hà Nội. Đúng là thái độ cả quyền của một thái thú, không hơn không kém!
Chính thái độ của Hồ Tỏa Cẩm, Tham tán tòa đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam mới đúng là đã ngang nhiên can thiệp vào nội bộ của Việt Nam khi cấm người Việt Nam quyền phê phán về hàng hóa có chất lượng thấp của Trung Quốc đã và đang tràn vào thị trường Việt Nam. Một quốc gia mà giới báo chí trong nước không dám hướng dẫn người dân của mình về tình hình hàng hóa ngoại nhập, đặc biệt lại do chỉ thị của ngoại bang, thì rõ ràng là đã bị “can thiệp nội bộ” một cách trắng trợn. Chỉ có Hà Nội đang bị Trung Quốc khống chế nên mới không coi đó là “can thiệp nội bộ” mà ngoan ngoãn tuân thủ “sự sai bảo” của đàn anh bá quyền.
Ngoài ra, trong lúc Bắc Kinh đang bị dư luận thế giới lên án gay gắt về việc đã tàn sát dã man làm 156 người thiệt mạng và 1000 người bị thương trong một cuộc đàn áp người Uygur tại thủ đô Urumqi, Tân Cương hôm mồng 7 tháng 7 năm 2009 thì Lê Dũng, phát ngôn nhân Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam, lại tuyên bố rằng: “Cộng sản Việt Nam tán đồng các giải quyết của Bắc Kinh ở Tân Cương”. Phát biểu của Lê Dũng cho thấy là Cộng sản Việt Nam đã và đang vuốt đuôi Trung Quốc, kể cả những vuốt đuôi mang tính nhục nhã và lạc hậu như qua biến cố Tân Cương.
Tóm lại, sự lệ thuộc của Cộng sản Việt Nam vào Trung Quốc ngày một rõ nét. Điều này đã giải thích cho chúng ta thấy rõ vì sao Hà Nội đã không tích cực tấn công Trung Quốc xâm lấn Biển Đông, không hành động mạnh mẽ như Nam Dương trong vụ Bắc Kinh cấm ngư dân đánh cá ba tháng liền từ tháng 5 đến tháng 8, cũng như ngoan cố duy trì dự án khai thác Bauxite tại Tây Nguyên trong lúc dư luận ở trong và ngoài nước đang chống một cách mãnh liệt.
Cộng sản Việt Nam là một tập đoàn phản bội dân tộc Việt Nam!

Trung ĐiềnNgày 9 tháng 7 năm 2009

Danh Sách Trên 300 Cán Bộ Cộng Sản Có Tài Sãn Vài trăm triệu Mỹ kim
Bọn CSVN tham nhũng kinh khũng như vầy mà quý vị còn nói chuyện chống tham nhũng. Hãy xem lại những số tiền khổng lố của những tên quan chức CSVN. Làm sao chống tham nhũng khi CSVN là những tên tham nhũng chưa từng thấy trong lịch sữ.Phan Văn Khải và con trai trên 2 tỷ USDNguyễn Thị Xuân Mỹ : Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Kiểm Soát 417 triệu USDThích Trí Tịnh : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, TW GHP 250 triệu USDLê Đức Anh : Cựu Chủ tịch nhà nước CSVN 2 tỷ 215 triệu USDTrần Đức Lương : Chủ tịch nhà nước 2 tỷ 100 triệu USDĐỗ Mười : Cựu Tổng Bí Thư CSVN 1 tỷ 90 triệu USDNguyễn Tiến Dũng : Đệ nhát Phó Thủ Tướng 1 tỷ 780 triệu USDNguyễn Văn An : Chủ tịch Ban Chấp Hành Trương Đảng CSVN 1 tỷ 70 triệu USDLê Khả Phiêu: Cựu Tổng Bí Thư Đảng 1 tỷ 430 triệu USDNguyễn Mạnh Cầm : Phó Thủ Tướng 1 tỷ 350 triệu USDVõ Văn Kiệt : Cựu Tổng Bí Thư Đảng 1 tỷ 15 triệu USDNông Đức Mạnh : Chủ Tịch Quốc Hội 1 tỷ 143 triệu USDPhạm Thế Duyệt : Uỷ viên Thường vụ Thường trực TW Đảng 1 tỷ 773 triệu USDTrần Ngọc Liễng : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 900 triệu USDHoàng Xuân Sính : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 784 triệu USDLý Ngọc Minh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 750 triệu USDNguyễn Đình Ngộ : Chủ tịch UBMTTQ 656 triệu USDVõ Thị Thắng : Phó Chủ tịch Trung ương HLHPN 654 triệu USDMa Ha Thông : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 590 triệu USDNguyễn Đức Triều : Chủ tịch TW Hội Nông dân VN 590 triệu USDTrần Văn Quang : Chủ tịch Hội Cựu chiến binh VN 587 triệu USDNguyễn Đức Bình : Giám Đốc Viện Quốc Gia TPHCM 540 triệu USDVương Đình Ái : Phó Chủ tịch Uỷ ban ĐKCĐVN 512 triệu USDHoàng Thái : Thường trực Đoàn Chủ tịch 500 triệu USDNguyễn Thị Nữ : Chủ tịch UBTW MTTQVN 500 triệu USDNguyễn Tiến Võ : Uỷ viên UBTW MTTQVN 469 triệu USDNguyễn Văn Huyền : Nhân sĩ thành phố HCM 469 triệu USDNguyễn Xuân Oánh : Kinh tế Thành phố HCM 469 triệu USDPhạm Thị Trân Châu : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 469 triệu USDThích Thiện Duyên : Giáo hội Phật giáo QN ĐN 469 triệu USDYA Đúc : uỷ viên UBTW MTTQVN 469 triệu USDHà Học Trạc : Chủ tịch UBTW MTTQVN 400 triệu USDHoàng Quang Đạo : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh 390 triệu USDLê Hai : Tổng cục chính trị QĐNDVN 390 triệu USDLê Truyền : Uỷ viên Ban Thường trực 390 triệu USDLý Quý Dương : Dân Tộc Dao tỉnh Hà Giang 390 triệu USDPhạm văn Kiết : Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc 390 triệu USDVương Đình Bích : Uỷ viên UBTW MTTQVN 390 triệu USDTrần Đông Phong : Thường trực UBTƯMTTQVN 387 triệu USDTrần Văn Đăng : Uỷ viên TƯ Đảng,Tổng Thư ký 364 triệu USDHoàng Đình Cầu : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USDLý Chánh Trung : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USDNgô Bá Thành : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USDTrương Thị Mai : Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam 300 triệu USDHồ Đức Việt : Bí Thư thứ nhất TW Đoàn TNCS 287 triệu USDLâm Công Định : Uỷ viên UBTW MTTQVN 287 triệu USDNgô Gia Hy : Uỷ viên UBTW MTTQVN 287 triệu USDTrần Văn Chương : Chủ tịch Hội người Viẹt Nam 287 triệu USDTrương Văn Thọ : Bác sỹ, dân tộc Chăm 287 triệu USDĐỗ Duy Thường : Vụ Trưởng vụ Dân chủ pháp luật 280 triệu USDĐỗ Tấn Sỹ : Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp 280 triệu USDLê Văn Triết : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 280 triệu USDLương Tấn Thành : Giáo Sư Bệnh viện Bạch Mai 280 triệu USDNguyễn Phúc Tuần : Uỷ viên UBTW MTTQVN 280 triệu USDPhạm Thị Sơn : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 280 triệu USDLê Bạch Lan : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 269 triệu USDNguyễn Văn Vi : Uỷ viên UBMTTW 269 triệu USDTrần Thoại Duy Bảo : Uỷ viên UBTW MTTQVN 269 triệu USDVũ Oanh Lão : thành cách mạng 269 triệu USDNguyễn Thị Nguyệt : Cao đài Ban Chỉnh tỉnh Bến Tre 264 triệ USDBùi Thái Kỷ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh 257 triệu USDHoàng Hồng : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 257 triệu USDLưu Văn Đạt : Tổng Thư ký Hội Luật gia Việt Nam 257 triệu USDNguyễn Công Danh : T P. Hồ Chí Minh 257 triệu USDNguyễn Túc : Uỷ viên Ban Thường trực 257 triệu USDNguyễn Văn Bích : Uỷ Ban Kế hoạch Nhà Nước 257 triệu USDHoàng Việt Dũng : Giám đốc Công ty TNHH 256 triệu USDPhan Quang : Hội nhà báo Việt Nam, Uỷ viên UBMT 256 triệu USDVưu Khải Thành : Tổng công ty hữu hạn BITIS 256 triệu USDCao Xuân Phổ : Viện Đông Nam á 254 triệu USDChu Văn Chuẩn : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 254 triệu USDĐăng Thị Lợi : Chủ tịch Hội Thân nhân Việt kiều 254 triệu USDHoàng Văn Thượng : Đại tá, Anh hùng quân đội 254 triệu USDLê Quang Đạo : Trung ương Mặt trận Tổ quốc N 254 triệu USDLợi Hồng Sơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 254 triệu USDLý Chánh Trung : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 254 triệu USDNgô Ngọc Bỉnh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USDNguyễn Kha : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USDNguyễn Văn Hạnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 254 triệu USDNguyễn Văn Vĩnh : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USDĐinh Thuyên : Chủ tịch hội người mù Việt Nam 250 triệu USDĐoàn Thị ánh Tuyết : Thượng tá, Anh hùng quân đội 250 triệu USDLê Thành : Phó Chủ tịch Thường trực 250 triệu USDMùa A Sấu : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 250 triệu USDTrần Kim Thạch : Uỷ viên UBTW MTTQVN 250 triệu USDLê Ngọc Quán : Mặt trận Tổ quốc tỉnh Vĩnh Phú 249 triệu USDNguyễn Quang Tạo : Chủ tịch liên hiệp các hội hoà bình 249 triệu USDNguyễn Văn Thạnh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 249 triệu USDThào A Tráng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 249 triệu USDTrần Khắc Minh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 229 triệu USDLê Minh Hiền : Thường trực UBTƯMTTQVN 215 triệu USDHà Thị Liên : Thường trực UBTƯMTTQVN 214 triệu USDAma Bhiăng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USDÂuu Quang Cảnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USDBế Viết Đẳng : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USDĐàm Trung Đồn : Đại học Tổng hợp Hà Nội 200 triệu USDĐặng Đình Tứ : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USDĐặng Ngọc Bân : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USDĐinh Công Đoàn : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USDĐinh Gia Khánh : Viện Văn học dân gian 200 triệu USDHà Phú An : Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USDHoàng Đức Hỷ : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USDLâm Bá Châu : Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp 200 triệu USDLê Văn Tiếu : Việt kiều tại CHLB Đức 200 triệu USDLương Văn Hận : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USDNguyễn Văn Tư : Chủ tịch Hội Công Thương 200 triệu USDPhùng Thị Hải : Giám đốc Công ty TNHH Thuỷ Sản 200 triệu USDRơ Ô Cheo : Dân tôc Gia Lai tỉnh Gia Lai 200 triệu USDSầm Nga Di : Dân tộc Thái, tỉnh Nghệ An 200 triệu USDThích Đức Phương : Thừa Thiên Huế 200 triệu USDThích nữ Ngoạt Liên : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USDTrần Hậu : TWMTTQVN Trưởng Ban Nghiên 200 triệu USDTriệu Thuỷ Tiên : Dân tộc Nùng 200 triệu USDTrương Nghiệp Vũ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USDTrương Quốc Mạo : Chủ tịch Hội nông dân 200 triệu USDUng Ngọc Ky : Uỷ viên uỷ ban TWMTTQ 200 triệu USDVũ Đình Bách : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USDMong Văn Nghệ : Dân tộc Khơ mú tỉnh Nghệ An 197 triệu USDĐinh Xông : Dân tộc Hrê tỉnh Quãng Ngãi 190 triệu USDLê Công Tâm : Phó Chủ tịch Thường trực 190 triệu USDMấu Thị Bích Phanh : Dân tộc Raklây tỉnh Ninh Thuận 190 triệu USDNguyễn Ngọc Minh : Uỷ viên UBMTTQ tỉnh Huế 190 triệu USDPhan Hữu Phục : Cao đài Tiên thiên 190 triệu USDTrần Thế Tục : Uỷ viên UBTW MTTQVN 190 triệu USDHoàng Mạnh Bảo : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USDNguyễn Thị Ngọc Trâm : Uỷ viên UBTW MTTQVN 187 triệu USDPhạm Hồng Sơn : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USDPhan Hữu Lập : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USDThái Văn Năm : Phật giáo Hoà hảo 187 triệu USDTrần Văn Tấn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 187 triệu USDVi Văn ỏm : Dân tộc Xi mun tỉnh Sơn La, 187 triệu USDBùi Thị Lập : Uỷ viên UBTW MTTQVN 184 triệu USDKpa Đài : Uỷ viên UBTW MTTQVN 184 triệu USDLê Văn Hữu : Mặt trận Tổ quốc tỉnh Phú Yên 184 triệu USDNông Quốc Chấn : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 184 triệu USDPhạm Khiêm Ich : Viên Thông tin KHXH 184 triệu USDPhạm Thanh Ba : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 184 triệu USDTừ Tân Vũ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 184 triệu USDViễn Phương : Nhà thơ Uỷ viên UBMTTQ 184 triệu USDNguyễn Ngọc Thạch : Tổng Biên Tập Báo Đại Đoàn kết 180 triệu USDTrương Hán Minh : Người Hoa TP. Hồ Chí MInh 180 triệu USDBùi Xướng : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 157 triệu USDTrần Đình Phùng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt 157 triệu USDHồ Ngọc Nhuận : Uỷ viên UBTW MTTQVN 156 triệu USDPhan Huy Lê : Uỷ viên UBTW MTTQVN 156 triệu USDNguyễn Thống : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 154 triệu USDTrần Minh Sơn : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 154 triệu USDVũ Duy Thái : Giám đốc xí nghiệp trách nhiệm hữu hạn 154 triệu USDChu Phạm Ngọc Sơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USDĐỗ Hoàng Thiệu : Đà Nẵng Ngân Hàng tỉnh QN ĐN 150 triệu USDDương Nhơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USDHuỳnh Cương : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USDMai Thế Nguyên : Kiến trúc sư trưởng tại Na Uy 150 triệu USDNgô Minh Thưởng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 150 triệu USDNguyễn Ngọc Sương : Đại học Tổng hợp Thành phố 150 triệu USDNguyễn Văn Diệu : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 150 triệu USDPhạm Ngọc Hùng : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USDThượng thơ Thanh : HT Cao đài Toà Thánh Tây Ninh 150 triệu USDTrần Đức Tăng : Phối sư Hội thánh Cđ Minh Chơn đạo 150 triệu USDTrần Phước Đường : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USDLê Đắc Thuận : Giám đốc điều hành Cty VANOCO 107 triệu USDNguyễn Đức Thành : Chủ tịch Ban điều hành CLB 107 triệu USDTrần Mạnh Sang : Uỷ viên UBTW MTTQVN 107 triệu USDAmí Luộc : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USDBùi Thị Lạng : Thành phố Hồ Chí Minh. 100 triệu USDDanh Nhưỡng Dân tộc Khơ me 100 triệu USDĐào Văn Tý : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USDĐồng Văn Chè : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USDHà Den : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USDHồ Phi Phục : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USDHoàng Kim Phúc : Tổng Hội trưởng Hội Thánh tin lành 100 triệu USDKim Cương Tử : UBTW MTTQV 100 triệu USDLê Ca Vinh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USDLý Lý Phà : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USDNguyễn Hữu Hạnh : Nhân sỹ Thành phố 100 triệu USDNguyễn Lân : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 100 triệu USDNguyễn Lân Dũng : Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội 100 triệu USDNguyễn Minh Biện : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USDNguyễn Phước Đại : Luật sư TP. Hồ Chí Minh 100 triệu USDNguyễn Tấn Đạt : Phật giáo Hoà hảo tỉnh An Giang 100 triệu USDNguyễn Thành Vĩnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USDNguyễn Thị Liên : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USDNguyễn Thiên Tích : Chủ tịch hội y học cổ truyền VN 100 triệu USDNông Thái Nghiệp :Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USDPhùng Thị Nhạn : Nghệ sỹ nhân dân Thành phố HCM 100 triệu USDSùng Đại Dùng : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USDTrương Quang Đạt : Dân tộc Sán Dìu tỉnh Vĩnh Phú 100 triệu USDTương Lai : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USDVũ Mạnh Kha : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Hà Nội 100 triệu USDHà Thái Bình : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 56 triệu USDNguyễn Văn Đệ : Thượng tá, kỹ sư thuộc Bộ Quốc Phòng 56 triệu USDTrần Bá Hoành : Uỷ viên UBTW MTTQVN 56 triệu USDVõ Đình Cường : Uỷ viên UBTQ MTTQVN 56 triệu USDCù Huy Cận : Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật VN 50 triệu USDLê Khắc Bình : Chủ tịch, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 50 triệu USDHuỳnh Thanh Phương : ủy Quân sự thành phố Cần Thơ 32 triệu USDHồ Xuân Long : Dân tộc Vân kiều, Quãng Trị 15 triệu USDMột tài liệu cũ trong báo Quốc gia, Montreal, Canada từ tháng 2/1996 trích tin Nữu Ước cho biết :“ Một thành viên cao cấp của Hội đồng mậu dịch Việt - Mỹ tiết lộ đảng CSVN được xem là một tỉ phú hàng đầu của thế giới vào năm 1995 với tài sản ước lượng lên đến 20 tỉ đôla…VN hiện nay có khoảng từ 80 đến 100 người có tài sản trên 300 triệu đô la, tất cả các tỉ phú này đều là cán bộ cao cấp của đảng.“Ông John Shapiro, một cựu chiến binh Hoa kỳ sau 3 tuần lễ thăm VN để tính chuyện làm ăn buôn bán, phát biểu rằng các ông lớn trong đảng gồm các thành viên bộ chính trị, các bộ trưởng và thứ trưởng, ít nhất mỗi người có vợ hay con làm chủ một công ty. Theo ông J Shapiro, do việc chính phủ cho phép các công ty được chuyển ngân ra nước ngoài lên đến 500000 đô la, số ngoại tệ trong nước bắt đầu vơi đi."Vẫn theo ông Shapiro, có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la. Đây là con số do một nhân vật cao cấp của ngân hàng trung ương cung cấp cho ông. Những đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu đô la khoảng 2000 người…Tất cả những con số về tài sản của đảng CSVN là do những chuyên viên thống kê của cơ quan mậu dịch quốc tế. Số tài sản lớn lao trên do thân nhân của đảng viên cao cấp ở nước ngoài làm sở hữu chủ. Ông Shapiro cũng nêu lên nhiều thí dụ điển hình như vợ bé của tổng cục phản gián làm ăn rất lớn ở Âu châu, em ruột của trung tướng VC, tổng cục phó tổng cục phản gián đang kinh doanh rất lớn ở Nam Cali, vợ con của Giám đốc tổng cục kinh tế và thân nhân của Đỗ Mười thủ đắc những tài sản nhiều triệu đô la ở Vancouver, Canada và cả ở New York, Houston. Trong niên khóa 94-95, hàng trăm du học sinh là con cái đảng viên tự túc. Niên khóa 95-96, con số này tăng lên gấp 3…”Một tài liệu khác trong website mà tôi tạm dịch là mạng điểm ( cf. địa điểm, thời điểm) Hận Nam Quan tháng 5/2002 tựa là “ Giai cấp mới trong các chế độ CS “ cho biết :"Theo tin của hãng thông tấn Reuter đánh đi từ Hà nội ngày 4 tháng 3 năm 2002 thì ĐCSVN sau khóa họp TƯ Đảng từ 18-2-đến 2-3-2002 đã chính thức ban hành một chính sách mới về kinh tế rất táo bạo: Đảng viên CS được phép làm kinh doanh tư nhân. Phạm Chi Lan, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và kỹ nghệ tuyên bố với phóng viên của hãng thông tấn Reuter rằng:”… Đại hội đã quyết định là các đảng viên đang quản trị các xí nghiệp tư nhân có quyền ở lại trong Đảng"."Thật ra thì từ nhiều năm nay, các đảng viên cao cấp tuy không chính thức sở hữu một xí nghiệp tư nào cả nhưng thân nhân bà con của họ đã là chủ nhân của những xí nghiệp tư lớn nhất trong nước."Cứ hỏi vợ con các ông Phan văn Khải, Võ văn Kiệt, Đỗ Mười, Phạm Thế Duyệt, Trần Đức Lương, Nguyễn Tấn Dũng…là sẽ biết ai là chủ nhân của các sân golf, các khách sạn hạng sang, hãng xe taxi, hãng hàng không, nhà máy chế biến hải sản, hãng xuất nhập cảng, siêu thị lớn nhất nước."Ai mà không thấy sự giàu có hiển nhiên của giới lãnh đạo CS tại VN. Họ xây nhà lầu, xài tiền như nước, xuất ngoại như đi chợ, chi tiêu một lúc hàng bó đô la tiền mặt. Giới tư bản đỏ nhờ phù phép XHCN đã biến tài sản của quốc gia thành tư sản một cách thần tình, biển thủ công quỹ, buôn lậu hàng quốc cấm thế mà cứ hò hét diệt tham nhũng đến cùng."Theo tài liệu FYI ( Poliburos network) ngày 19/12/2000 thì các cán bộ và nhân viên cao cấp của nhà nước CS Hà nội hiện làm chủ những số tiền to lớn gửi tại các ngân hàng ngoại quốc cộng với những bất động sản tọa lạc trong nước.- Lê Khả Phiêu : cựu tổng bí thư ĐCSVN và gia đình có 5 khách sạn (2 ở Hànội và 3 ở Saigon), tài sản và tiền mặt trị giá 1 tỉ 170 triệu Mỹ kim (US$ 1.170.000.000)- Trần Đức Lương: Chủ tịch nước CHXHCNVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 137 triệu MK- Phan Văn Khải: Thủ tướng chính phủ, gia đình có 6 khách sạn ở Saigon, tài sản 1 tỉ 200 triệu MK.- Nguyễn Tấn Dũng: Đệ 1 Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 480 triệu MK- Nguyễn Mạnh Cầm: Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 150 triệu MK- Phạm Thế Duyệt: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, tài sản 1 tỉ 173 triệu MK- Tướng Phạm Văn Trà : Bộ trưởng Quốc Phòng, tài sản gồm có 10 tấn vàng và tiền mặt 1 tỉ 360 triệu MK.- Trương tấn Sang: Chủ tịch Ủy ban Kinh tế TƯ Đảng CSVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 124 triệu MKNgoài ra, còn một số cán bộ và công chức có 1 tỉ và trên 100 triệu MK trong danh sách liệt kê của bảng FYI này là hơn 20 người nữa.Gần đây nhất, theo điện thư Câu lạc bộ dân chủ số 39 tháng 2/2005 trong mạng điểm Y kiến thì:"Một nguồn tin tuyệt mật đã được tiết lộ mới đây từ một quan chức cao cấp Bộ Công an cho biết số tiền khổng lồ mà các quan chức cao cấp VN gửi tại ngân hàng Thụy sĩ. Đáng chú ý là:Cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh hơn 2 tỉ USD cộng 7 tấn vàng;Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười 2 tỉ USD;Đương kim Bộ trưởng Quốc Phòng Phạm văn Trà 2 tỉ USD cộng 3 tấn vàng;Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu 500 triệu USD;Đương kim Chủ tịch nước Trần Đức Lương 2 tỉ USD;Đương kim Thủ tướng Phan văn Khải hơn 2 tỉ USD;Đương kim Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn tấn Dũng hơn 1 tỉ USD;Đương kim Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 1,3 tỉ USD;Đương kim chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An hơn 1 tỉ USD;Cựu phó ủy ban thể dục thể thao Quốc gia Lương quốc Đống 500 triệu USD;Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm hơn 1 tỉ USD;Cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại Mai văn Dậu hơn 1 tỉ USD.Ngoài ra, nguồn tin cũng cho biết một danh sách dài các quan chức có số tiền gửi hàng trăm triệu USD…”Tôi phải đưa ra 3 nguồn khác nhau để anh và các bạn trong nước thấy, báo chí trong nước nếu biết cũng không dám đăng vì toàn là “bí mật quốc gia”, internet thì không phải ai cũng có để coi, lại bị tường lửa ngăn chặn hay bị theo dõi khi dùng máy điện toán công cộng.
http://www.thienlybuutoa.org/Misc/NguoiLinhGia.htmhttp://minht.free.fr/tham%20nhung%20001/mat%20tran/no%20le%20che%20do%20001.htmlQuan chức cao cấp của chế độ CSVN gởi tiền ở ngoại quốc Sunday, September 11, 2005 * CSVN ra luật chống rửa tiền nhưng ...

GENEVA 11-9 (NV) - Một số cán bộ được tin cậy của đám quan chức cao cấp của chế độ Hà Nội đã được giao cho nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị các tài sản khổng lồ của họ có được nhờ tham nhũng hối lộ gửi tại các ngân hàng ngoại quốc. Một nhân vật (yêu cầu dấu tên) từng giao tiếp với một số người này ở một số ngân hàng Thụy Sĩ tiết lộ như vậy trong một cuộc tiếp xúc với báo Người Việt mới đây. “Chưa kể tại ngân hàng các nước khác ở Âu Châu và Á Châu, riêng tại Thụy Sĩ, tôi biết có hai người ở các ngân hàng thành phố Lausane và hai người ở thành phố Geneva, làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản do xếp của họ gửi.” Nhân vật trên tiết lộ. Lương bổng của đám quan chức cao cấp của đảng và nhà nước CSVN, theo sự mô tả của một viên chức ngoại giao Tây Phương thì “không đủ để họ sống 10 ngày”, nhưng họ có tiền phải gửi, hay nói đúng hơn, giấu đút, ở các ngân hàng ngoại quốc là một điều hiển nhiên bất bình thường. Cho tới nay, lương căn bản của cán bộ đảng viên CSVN chỉ có 290,000 (tương đương khoảng $18 đô la) rồi nhân theo chỉ số cao thấp tùy chức vụ, cấp bậc. Nhưng có lần Vũ Khoan, phó thủ tướng CSVN, khi thăm một xí nghiệp quốc doanh đã so sánh và thấy một viên chức nhà nước chức vụ rất cao như ông còn kém lương của một người thợ chuyên môn. Ðiều này cho thấy lương bổng cán bộ công chức CSVN, dù là quan chức cao cấp, cũng không là bao nhiêu và không đủ sống. Theo lời nhân vật trên tiết lộ, mỗi một số viên chức cao cấp của chế độ đều sử dụng một số thuộc cấp tín cẩn vào công việc chuyển ra ngoại quốc số tài sản khổng lồ mà họ vơ vét được qua các “phi vụ” tham nhũng hối lộ. Số tiền họ gửi mỗi lần khoảng bao nhiêu, cách bao lâu gửi một lần, các cán bộ có trách nhiệm chuyển đô la và vàng dưới nhiều hình thức khác nhau đến các ngân hàng ngoại quốc, không tiết lộ. Nhưng nếu đó không phải là các số tiền lớn bạc triệu đô la thì người ta không cần đến người chuyên trách “chuyển khoản” cũng như quản trị xuất nhập các số tiền này, ông nói. “Họ luôn luôn có trách nhiệm đi đi về về”, ông tiết lộ tiếp. “Giữa không những Việt Nam và Châu Âu mà còn cả từ Việt Nam đến một số ngân hàng ở Á Châu cũng như cả Nga và Ðông Âu.” Tại sao đám quan chức CSVN lại đem tiền gửi cả tại nước Nga là nước có hệ thống ngân hàng thuộc loại bấp bênh nhất trên thế giới? “Họ gửi tiền cả ở ngân hàng Nga vì tin tưởng nguyên tắc khôn ngoan này: Không bao giờ bỏ tất cả các quả trứng vào chung một giỏ.” Ông giải thích rằng nếu một quả trứng chẳng may bị vỡ, có thể những quả trứng khác vỡ theo. Ðây là sự khôn ngoan chung của đám quan chức cao cấp của chế độ khi họ rải số tiền kiếm chác được ra nhiều nơi trên thế giới. Theo ông, có rất nhiều người khác nhau làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản của “xếp” ở ngoại quốc. Nhưng cũng có những người là vợ, con, hay thân quyến của đám cán bộ đảng viên tham nhũng đóng vai trò giấu đút tiền tham nhũng hối lộ khi họ đi ra ngoại quốc. Tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn viết một bài có tính cách “mách bảo” cho cán bộ đảng viên tham nhũng trong nước cách thức gửi tiền ở hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ với tựa đề “Gửi tiền ở nhà băng Thụy Sĩ”. Bài báo này được báo điện tử VNExpress lấy lại và phổ biến ngày Thứ Bảy 10-9-2005 mở đầu với câu hỏi “Có thể mở tài khoản ẩn danh - anonymous account - ở ngân hàng Thụy Sĩ không?” Bài báo này giải thích khá tỉ mỉ về thế nào là tài khoản ẩn danh dưới hình thức “tài khoản mang số nào đó thay vì mang tên khách hàng.” Và “tài khoản số hạn chế sự hiểu biết về chủ nhân của nó...” Bài báo phục vụ loại độc giả nào, khách hàng ngân hàng nào ở trong nước, người ta có thể hình dung ra ngay khi mà lợi tức trung bình đầu người chỉ có khoảng $500 đô la một năm. Ngày 8-6-2005, CSVN theo áp lực của Hoa Kỳ khi lôi kéo Hà Nội hợp tác đối phó với khủng bố, rửa tiền ma túy, buôn lậu trên thế giới, ra nghị định số 74/CP để chống rửa tiền. Nghị định này buộc “Các ngân hàng, các định chế tài chính phải báo cáo về các giao dịch trong một ngày của một cá nhân hay một tổ chức có tổng trị giá từ 200 triệu đồng (khoảng $12,400 đô la) trở lên.” Theo sự tường thuật trên báo Tuổi Trẻ ngày 9-6-2005. Tờ báo này kể tiếp rằng: “Tuy nhiên, các qui định có tác động lớn nhất là các ngân hàng buộc phải báo cáo về những khách hàng có lượng tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng từ 500 triệu đồng (khoảng $31,000 đô la) trở lên tại một ngân hàng. Lượng tiền 500 triệu đồng là tổng các khoản tiền gửi của cá nhân đó chứ không phải là một lần gửi tiết kiệm có trị giá 500 triệu đồng." Nhân vật trên kể cho hay, cách đây mấy năm, ông chánh văn phòng của Hội đồng Bộ Trưởng Chính phủ CSVN có lần đã thua bạc tại một casino ở Geneva “mấy trăm ngàn đô la trong một đêm”. Ðiều này, số tiền tham nhũng hối lộ mà đám quan chức CSVN giấu đút ở ngoại quốc phải “vô cùng lớn.” Khóa họp Quốc hội CSVN hồi tháng Tư vừa qua, một dự thảo luật chống tham nhũng được bàn cãi nhưng rồi vẫn không có biểu quyết và được loan báo sẽ thảo luận trở lại vào khóa họp thứ hai của năm nay dự trù vào tháng 11 tới. Hàng năm, các khóa họp quốc hội Hà Nội đều có thảo luận chuyện chống tham nhũng và họ nhìn nhận tham nhũng đã trở thành “quốc nạn”. Nguyễn đình Lộc, đại biểu quốc hội và nguyên là Bộ trưởng Tư Pháp CSVN nói với báo chí trong nước rằng tham nhũng chỉ bị lộ diện khi “nội bộ tham nhũng” tố cáo lẫn nhau. Trong một cuộc điều trần trước quốc hội, Phan văn Khải, thủ tướng Hà Nội, nhìn nhận tham nhũng đã “xà xẻo” khoảng 30% các dự án xây dựng, phát triển. Phần lớn các dự án này được tài trợ từ các khoản tín dụng ngoại quốc. Các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết viện trợ, tài trợ cho các dự án phát triển, xóa đói giảm nghèo cho Việt Nam năm 2005 là $3.4 tỉ đô la.